Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label binhluan. Show all posts
Showing posts with label binhluan. Show all posts

GS Ngô Bảo Châu tái xuất

Theo blog Người lót gạch, một bức thư gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về chuyện công an bắt giữ nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên vừa được công bố. Trong số 144 người ký vào bức thư này có một số người nổi tiếng và đáng kính trọng trong dân chúng Việt Nam. Nhưng tôi đặc biệt chú ý có tên của GS Ngô Bảo Châu, nhà toán học người Việt nổi tiếng nhất hiện nay. Một thời gian dài, từ sau bài viết về phiên tòa xử ông Cù Huy Hà Vũ, GS Ngô Bảo Châu dường như lánh xa những vấn đề chính trị phức tạp. Nhưng giờ đây ông lại tái xuất trong một bức thư, mà chính bản thân tôi cũng cảm thấy bất ngờ, vì theo cảm nhận của tôi dường như vụ cô sinh viên này có những vấn đề chồng chập, thông tin chưa đủ để bóc tách chúng ra. GS Ngô Bảo Châu chắc hẳn phải là một người thông minh và cẩn thận, do vậy chữ ký của ông hẳn phải phản ánh rằng ông đã có những thông tin chính xác và đấy là một vấn đề nghiêm trọng. Theo sự hiểu biết của tôi, GS Ngô Bảo Châu rất ít khi tham gia ký tên vào thư thỉnh nguyện, hình như lần này là lần thứ 2, sau lần về vấn đề bauxite.  Blog của GS Ngô Bảo Châu rất khó truy cập từ Việt Nam, nhưng chưa bao giờ thấy ông phàn nàn công khai về vấn đề này. Sau bức thư này, chắc chắn vụ việc nữ sinh Nguyễn Phương Uyên sẽ thu hút công luận, nhất là gần đây xuất hiện một số cáo buộc ngành công an có những quy trình bắt người không thể chấp nhận được trong một xã hội văn minh.  

Cập nhật:  ngày 3-11-2012

Ngày 3-11 cơ quan an ninh điều tra có cuộc họp báo về chuyện bắt giam cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên. Theo cơ quan an ninh, cô Nguyễn Phương Uyên đã tham gia rải truyền đơn kích động, xuyên tạc Đảng và Nhà nước. Cơ quan an ninh cũng khẳng định rằng chuyện bắt giam đã được thực hiện theo đúng thủ tục tố tụng hình sự. Tuy nhiên, tôi không thấy cơ quan an ninh đề cập tới vấn đề khi khám xét và bắt giam cô Uyên tại nhà đi thuê có thực hiện đúng thủ tục tố tụng hình sự hay không, ví dụ có lệnh khám xét chỗ ở, lệnh tạm giam, khi khám xét có nhân chứng hay không. Ở đây cũng có những điểm thời gian không khớp nhau. Theo báo PLTPHCM, ngày 10-10 cơ quan an ninh khởi tố điều tra, bắt tạm giam và 1 ngày sau gửi thư thông báo cho gia đình. Theo thông tin trên mạng, bản chụp tờ thông báo về tạm giam gửi về cho gia đình và địa phương đề ngày 20-10. Theo BBC, các người bạn của cô Uyên cho biết cô Uyên bị bắt tại nhà trọ vào ngày 14-10. Theo báo Người lao động, ngày 19-10 cơ quan an ninh ra quyết định khởi tố, điều tra và tạm giam. [Có lẽ báo Người lao động đưa tin đúng, báo PLTPHCM nên sai thải phóng viên Thiện Nhân viết bài, vì có ngày tháng cũng không thể tường thuật đúng]. Vậy từ ngày 14-10 đến ngày 19-10, cơ quan công quyền nào chịu trách nhiệm về khám xét và tạm giữ cô Uyên?

Cuộc họp báo này cho thấy đó là phản ứng của chính quyền trước bức thư gửi Chủ tịch nước nói trên. Nó cũng cho thấy công luận đã tạo ra những áp lực nhất định và bắt buộc cơ quan công quyền phải trả lời, không thể làm ngơ.
 

Trảm giam hậu

Vụ bà Cốc Khai Lai bên Trung Quốc bị kết án tử hình nhưng được hoãn kỳ chấp hành, một số báo Việt Nam đưa tin là án "tử hình treo". Thực chất đây chính là loại kết án "trảm giam hậu" ngày xưa, tức là tội chém, nhưng chưa hành quyết ngay, mà giam lại đợi một thời gian xem xét lại mới quyết định chém hay không. Thời nhà Nguyễn Việt Nam vẫn có loại tội hình "trảm giam hậu" này, nhưng ngày nay không còn. Phan Châu Trinh từng bị kết án "trảm giam hậu", nhưng cuối cùng vẫn không bị chém đầu. Thực sự, án "trảm giam hậu" có thể coi là một tiến bộ, nhất là đối với các vụ án liên quan tới chính trị, bởi vì một là tính mạng con người là thứ quan trọng bậc nhất, cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, hai là nhiều khi tại thời điểm này do bị chi phối về chính trị hay dư luận mà tòa án tuyên án như vậy, nhưng một thời gian sau, khi bình tĩnh lại, lại thấy nếu xử chém thì quá nặng, nhưng nếu đã chém rồi thì đâu còn sửa sai được nữa.

Ngày nay thế giới đang tiến tới xóa bỏ án tử hình. Nhưng nếu vì những lý do nào đó mà án tử hình vẫn còn phải có thì sao lại không thêm một nấc tội hình "trảm giam hậu" như tiền nhân đã từng làm?

Hội hè

Bakhtin từng viết như sau về hội hè:

"Hội hè (dưới mọi hình thức) là một yếu tố nguyên thủy rất quan trọng của văn hóa loài người. Không thể lấy những điều kiện và mục tiêu cụ thể của lao động xã hội hoặc nhu cầu nghỉ ngơi của cơ thể con người để giải thích nguồn gốc phát sinh và lý do tồn tại của hội hè . Mọi thứ hội hè bao giờ cũng có ý tứ sâu rộng, với nội dung thế giới quan trọng đại. Không một sự “tập luyện” tổ chức và cải tiến lao động xã hội, không một sự mô phỏng quá trình lao động và không một sự nghỉ ngơi giải trí nào tự thân chúng lại có thể trở thành hội hè; để trở thành hội hè, chúng phải được liên thông với lĩnh vực khác của cuộc sống - lĩnh vực tư tưởng - tinh thần; chúng phải nhận được sự “phê chuẩn” từ thế giới của những mục tiêu tối cao, tức là những lý tưởng của con người, chứ không phải từ thế giới của những phương tiện và điều kiện tất yếu.

Mọi thứ hội hè đều liên quan mật thiết đến thời gian, nảy sinh trên cơ sở những quan niệm nhất định của con người về thời gian - thời gian thiên nhiên (vũ trụ), thời gian sinh vật và thời gian lịch sử. Trong mọi giai đoạn phát triển của chúng, hội hè đều gắn liền với những giây phút khủng hoảng, những bước ngoặt trong cuộc sống của thiên nhiên, của xã hội và của con người. Trong tinh thần hội hè, nhưng yếu tố diệt vong và tái sinh, biến hóa và đổi mới bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo. Chính những yếu tố ấy dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau tạo nên cái không khí hội hè đặc thù của ngày hội.

Trong điều kiện của xã hội có giai cấp đối kháng, nhất là của chế độ phong kiến, đặc tính nói trên của hội hè, tức là tính gần gũi của chúng với mục tiêu tối cao của cuộc sống con người, với sự hồi sinh và đổi mới của vạn vật chỉ có thể được thể hiện một cách đầy đủ, đích thực và trong sáng ở hội giả trang và các hội dân gian khác. Những hoạt động hội hè ấy đã thực sự trở thành cuộc sống thứ hai của nhân dân, trở thành những hình thức thoát ly tạm thời thực tại hiện hữu để “nếm mùi” hiện thực lý tưởng - hiện thực của tự do, bình đẳng, đại đồng và sung mãn."
(Bản dịch của Phạm Vĩnh Cư)

Bakhtin phân biệt hội hè (lễ hội dân gian) với lễ hội nhà nước và lễ hội tôn giáo. Ông cho rằng hội hè là "cuộc sống thứ hai của nhân dân", một hình thức "thoát ly tạm thời thực tại hiện hữu để "nếm mùi" hiện thực lý tưởng - hiện thực của tự do, bình đẳng, đại đồng và sung mãn" (câu này Phạm Vĩnh Cư đã giải thích thêm lời của mình vào, nguyên tác chỉ là "Những hoạt động hội hè ở đây đã trở thành một hình thức của cuộc sống thứ hai của nhân dân, gia nhập tạm thời vào đế chế không tưởng của đại đồng, tự do, bình đẳng và phồn vinh").

Đối chiếu quan niệm về hội hè của Bakhtin vào các lễ hội ở Việt Nam có thể thấy những khía cạnh lý thú của chúng. Ví dụ như hội phát ấn đền Trần. Phát ấn đền Trần trở thành một hình thức của cuộc sống thứ hai của nhân dân, bởi vì nền chuyên chính vô sản đã xây dựng và kiểm soát một hệ thống tổ chức nhân sự chặt chẽ, mà ở đấy dường như nhân dân không có vai trò gì có thể tham gia vào tổ chức nhân sự đấy. Như vậy, phát ấn đền Trần là một hình thức tạm thời thoát ly hiện thực, để gia nhập vào một giấc mơ của bình đẳng và phồn vinh trong sự nghiệp. Mỗi lá ấn là một biểu hiện của bình đẳng và phồn vinh trong sự nghiệp. Điều này giải thích vì sao dân chúng tham gia một cách tự nguyện và hăng hái, bất chấp cả nguy hiểm tính mạng vào đêm phát ấn. Đó là khoảnh khắc thăng hoa khỏi hiện thực với ước mơ về một hiện thực bình đẳng và phồn vinh. Những giải thích theo kiểu lý do mê tín, buôn thành bán thánh, khoảng trống trong tâm linh sau một thời gian dài theo lý tưởng cộng sản hay phản ánh sự bát nháo của xã hội đều không thích hợp, và chưa thấy được bản chất của hội hè dân gian. Làm sao có thể giải thích được sự tham gia vào đêm phát ấn ở đền Trần của cụ già trong ảnh?  Cụ già đâu còn mong được thăng quan tiến chức gì? Điều đó chỉ có thể lý giải được bằng "cuộc sống thứ hai của nhân dân" được phê chuẩn bằng lý tưởng tối cao của con người: bình đẳng, tự do, đại đồng và phồn vinh. Tham gia vào đêm hội hè đấy là thực hiện cuộc sống thứ hai của mình, một tạm thời thoát ly hiện thực, gia nhập vào một thế giới lý tưởng của bình đẳng và phồn vinh. Người ta sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng của mình vì lý tưởng như vậy, mặc dù không nhận thức được động lực đã thôi thúc mình tham gia vào cuộc hội hè đầy hiểm nguy. Chỉ có những lý tưởng cao cả của con người như vậy, cho dù chỉ là một thứ không tưởng và tạm thời, mới xứng đáng để mạo hiểm tính mạng của chính mình. Đó là điều dễ hiểu.

Hội hè dân gian, như phát ấn đền Trần, có tác dụng làm ổn định xã hội và chính trị, bởi vì ở đấy nhân dân thoát ly khỏi hiện thực, xả ra khỏi mình những bất công của cuộc sống hiện thực, để trở nên cân bằng trở về cuộc sống hiện tại sau khi kết thúc hội hè. Nếu không có hội hè, những bất công trong xã hội tích tụ trong nhận thức của nhân dân, không còn có "cuộc sống thứ hai" để lánh vào hay xả ra, sẽ biến thành lực lượng cách mạng để thực hiện một cuộc sống tự do, bình đẳng, đại đồng và phồn vinh. Đó cũng lý giải tại sao trước khi có những cuộc cách mạng nổ ra, các hội hè bị xếp xó và quên lãng. Như vậy tùy thuộc vào quan điểm muốn ổn định xã hội và chính trị, hay muốn có biến động và thay đổi xã hội mà cổ xúy hay bài xích hội hè. Bài xích và dẹp bỏ hội hè là một con đường nhanh chóng thúc đẩy dân chúng đến với cách mạng tạo ra bất ổn xã hội và chính trị. 

Photobucket


Chuyện hài cuối tuần: Xuân tóc đỏ thời nay



Tôi xem đoạn clip trên mà không khỏi phì cười. Đúng là chuyện hài cuối tuần. Clip quay đoạn ông Lại Văn Sâm, người của Đài Truyền hình Việt Nam dịch lại mấy câu phát biểu của diễn viên Ngô Ngạn Tổ trong buổi lễ bế mạc Liên hoan phim quốc tế Việt Nam tổ chức lần đầu tiên ở Việt Nam. Nếu là tình huống đột xuất, không lường được trước là phải phiên dịch tiếng Anh, người tổ chức chương trình đã đưa người không có khả năng dịch được tiếng Anh làm người dẫn chương trình thì không nói làm gì. Tình huống phải dịch tiếng Anh là tình huống đã biết trước và nằm trong chương trình. Vậy mà vẫn để xảy ra như vậy, để cho Lại Văn Sâm coi thường tất cả mọi người có mặt ở buổi lễ trao giải, cũng như coi thường luôn khán giả xem truyền hình của cả nước, đem lời nói nhăng nhít của mình làm lời dịch cho Ngô Ngạn Tổ. Đúng là một Xuân tóc đỏ thời nay! Nhưng điều đáng kinh ngạc ở chỗ một kẻ như Lại Văn Sâm như vậy lại có thể làm công việc như vậy ở Đài truyền hình Việt Nam, một đài truyền hình của quốc gia, một bộ mặt của quốc gia. Đoạn clip trên chẳng khác nào một bãi nước bọt nhổ thẳng vào mặt Đài Truyền hình Việt Nam cũng như uy tín quốc gia.

Ước nguyện của người đã khuất

Với tôi ước nguyện của người đã khuất luôn có một điều gì đó bí hiểm. Có thể vì tôi không có trải nghiệm thực tế mà tri thức lại không đủ sâu rộng để luận ra. Thực hiện ước nguyện của người đã khuất cũng là một vấn đề nhiều khi không đơn giản. Trong nhiều trường hợp, ước nguyện của người đã khuất không được những người đang sống thực hiện - những di chúc bị phản bội. Cũng có những trường hợp di chúc của người đã khuất không được thực hiện, không phải vì những người đang sống không muốn thực hiện hay phản bội lại di chúc, mà vì điều kiện không cho phép thực hiện di chúc. Viên tướng Pháp Marcel Bigeard có để lại di chúc muốn được rải tro hỏa táng của mình ở Điện Biên Phủ. Tướng Bigeard từng tham gia trận chiến ở Điện Biên Phủ, và đến cuối trận chiến được thăng quân hàm Thiếu tá. Kết thúc trận chiến Điện Biên Phủ Bigeard đầu hàng và được ân xá về nước Pháp 3 tháng sau đó. Tướng Bigeard từng tham gia cả cuộc chiến ở Algeria, và kết thúc binh nghiệp với quân hàm Trung tướng. Ước nguyện của tướng Bigeard là mong muốn khi qua đời tro hỏa táng của ông được rải ở Điện Biên Phủ để ông được gặp lại các đồng đội đã bỏ mình trên chiến trường xưa.

Ước nguyện của tướng Bigeard khó có thể được thực hiện. Theo RFI các quan chức của Việt Nam phản đối thực hiện kế hoạch rắc tro di thể của tướng Bigeard xuống Điện Biên Phủ. Theo lời của một vị quan chức giấu tên, lý do là "không muốn tạo ra một tiền lệ"  và "không ai có thể biết được một ngày nào đó một cựu quân nhân nước ngoài nào khác cũng muốn làm như vậy ở Việt Nam. Điều đó nhạy cảm và phức tạp". Cá nhân tôi không hiểu lắm lý do mà vị quan chức giấu tên nêu ra. Tôi không có trải nghiệm về chiến tranh nên có thể không cảm thấy sự nhạy cảm và phức tạp của vấn đề này. Tôi cố thử hình dung xem vấn đề nhạy cảm như thế nào, nhưng cảm thấy rất khó khăn để hình dung. Tôi nghĩ người Việt Nam vị tha và không quá nặng nề về quá khứ. Ước nguyện của tướng Bigeard cũng không gì là quá hay vượt qua những qui ước văn hóa hữu hình và vô hình. Chỉ đơn giản là rắc tro, gió sẽ thổi tan chúng vào hư không, đâu có phải là xây mộ hay tượng đài trường cửu. Giữa Thăng Long ngày xưa còn cheo leo một đền Sầm Nghi Đống cũng đâu có làm sao. Ông cha chúng ta ngày xưa còn có thể thể tất được như vậy, chúng ta ngày nay lại không thể được sao?

Tôi nghĩ về ước nguyện của tướng Bigeard, về mong muốn được gặp lại các đồng đội đã bỏ mình ở chính nơi chiến trường. Tôi nghĩ về các vị tướng Việt Nam. Tôi không biết có vị tướng nào có ước nguyện khi khuất núi như tướng Bigeard không. Tôi chợt nhận ra rằng phải chăng đây chính là nhạy cảm? Tôi từng viếng thăm nghĩa trang ở Trường Sơn. Những ngôi mộ ngút ngàn. Lúc viếng thăm đấy tôi đã không để ý xem có mộ viên tướng Việt Nam nào không. Giờ đây tôi tự hỏi có viên tướng Việt Nam nào muốn xum họp với đồng đội của mình ở nghĩa trang Trường Sơn không? Tôi nhiều lần đi ngang qua nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Khang trang và thanh nhã. Tôi cũng chưa bao giờ vào nghĩa trang Mai Dịch thăm viếng, tuy ở đấy có nhiều yếu nhân của lịch sử Việt Nam hiện đại yên nghỉ. Ở đấy chắc cũng có nhiều viên tướng của Việt Nam yên nghỉ. Nhưng Mai Dịch và Trường Sơn cách xa nhau quá. Một nhà thơ cổ xưa của Trung Quốc từng viết câu thơ đến nao lòng "Nhất tướng công thành vạn cốt khô". Tôi chợt nhận ra rằng Mai Dịch là "công thành", và Trường Sơn là "vạn cốt". Ước nguyện của viên tướng Pháp cứ khiến tôi nghĩ miên man về những vị tướng Việt Nam.      

Ấm ớ hội tề

Bây giờ thì tôi biết thông tin quốc hoa của Ấn Độ là hoa sen trắng từ đâu. Báo Thể thao và Văn hóa cho biết ông Trần Khánh Chương, Chủ tịch hội Mỹ thuật, phát biểu như vậy trong một buổi tọa đàm trên truyền hình. Đọc thông tin trên báo TT&VH tôi tin chắc rằng ông Trần Khánh Chương không có hiểu biết gì về phân loài thực vật nói chung và loài sen nói riêng, cũng như Ấn Độ chọn loài hoa nào làm quốc hoa. Bàn luận về hoa mà ấm ớ hội tề như vậy thì bàn luận làm gì?

Có nên chọn hoa mào gà làm quốc hoa?

Ông Vũ Khiêu có đưa ra đề xuất chọn hoa mào gà làm quốc hoa. Song tôi có thể dùng chính lập luận của ông Vũ Khiêu để bác bỏ chính đề xuất của ông. Ông Vũ Khiêu bác bỏ hoa đào, hoa mai vì cho rằng những loài hoa này ở Trung Quốc đẹp hơn nhiều và có nhiều thơ ca về chúng. Nhưng ông Vũ Khiêu cũng quên mất là hoa mào gà cũng có ở Trung Quốc, Nhật Bản, và Trung Quốc, Nhật Bản cũng có nhiều thơ ca về hoa mào gà. Hoa mào gà ở Trung Quốc có tên là kê quan hoa (hoa màu đỏ) hay thanh tương hoa (hoa màu trắng). Quảng quần phương phổ (quyển 52) có chép kê quan hoa và dẫn ra một số bài thơ viết về hoa này. Hoa mào gà trong tiếng Nhật là keitou (kê đầu) và là một quý ngữ của thể thơ haiku của Nhật Bản. Những thi nhân nổi tiếng của Nhật Bản như Buson, Basho, Issa và Shiki đều có thơ haiku với hoa mào gà là quý ngữ. Tôi không thể tìm được một bài thơ ca nào của người Việt Nam trong lịch sử văn học viết về hoa mào gà. Nếu người Việt biết sử dụng hoa mào gà trong chữa bệnh thì người Trung Quốc, Nhật Bản cũng sử dụng hoa mào gà trong y dược không thua kém. Như vậy theo đúng như tiêu chí của ông Vũ Khiêu, hoa mào gà đâu có xứng làm quốc hoa của Việt Nam.

Một đặc điểm dễ thấy là hoa mào gà chỉ thấy góp mặt trong y dược và làm cảnh ở Việt Nam. Trong các hình thức sinh hoạt khác, như văn học, điêu khắc, âm nhạc... nó hoàn toàn vắng bóng. Như vậy hoa mào gà đâu có mang trong nó những giá trị văn hóa thẩm mỹ của người Việt. Cho rằng hoa mào gà tượng trưng cho đầu gà trống và gà trống tượng trưng cho Việt Nam chỉ là những lập luận suy diễn tư biện và không có bất cứ một cơ sở dẫn chứng nào trong lịch sử văn hóa Việt Nam để khẳng định.   

Những ngộ nhận về hoa

Tôi đọc trên báo Tiền Phong thấy có bài ý kiến của ông Vũ Khiêu về lựa chọn quốc hoa. Tôi thấy trong bài báo này có một số ngộ nhận về hoa.

1. Ngộ nhận hoa mai của Việt Nam là hoa mai của Trung Quốc:

Hoa mai vàng của Việt Nam và hoa mai của Trung Quốc không có liên quan gì với nhau. Hoa mai vàng của Việt Nam thuộc chi Ochna, hoa mai của Trung Quốc thuộc chi Prunus. Thậm chí chúng còn thuộc các họ khác nhau. Có nghĩa là hoa mai vàng của Việt Nam không có dây mơ rễ má gì với hoa mai của Trung Quốc. Hoa mai của Trung Quốc chính là cùng loài với hoa mơ của Việt Nam. Quả mơ của Trung Quốc lại là quả hạnh theo cách gọi trong tiếng Việt. Do vậy cần phải phân biệt cho rõ ràng mai-mơ và hạnh-mơ. Tất cả mai-mơ, hạnh-mơ đều không có liên quan gì tới mai vàng của Việt Nam. Mai vàng của Việt Nam lại chính là kim liên của Trung Quốc. Kim liên này cũng không phải là thứ hoa sen làm bằng vàng trong gót sen, gót vàng. Do vậy hàng ngàn bài thơ vịnh hoa mai của Trung Quốc không phải là các bài thơ vịnh hoa mai vàng của Việt Nam.

2. Ngộ nhận hoa súng là hoa sen:

Hoa sen không phải là hoa súng. Đây là một ưu điểm phân loại hoa theo tên gọi thông tục của tiếng Việt, và trùng khớp với phân loại pháp danh khoa học. Ngôn ngữ Trung Quốc không biệt được hoa sen và hoa súng. Hà, liên, phù dung là các tên gọi chung tất tuốt cho cả hoa sen lẫn hoa súng. Do vậy những bài thơ về liên hoa, hà hoa, phù dung của Trung Quốc không thể xác định được là viết về hoa sen hay hoa súng. Quốc hoa của Sri Lanka là hoa súng (
Nymphaea nouchali), không phải là hoa sen (Nelumbo nucifera). 

3. Ngộ nhận hoa gạo ít có giá trị thẩm mỹ:

Nói hoa gạo ít có giá trị thẩm mỹ là đã xúc phạm đồng bào Tây Nguyên. Hoa gạo chính là hoa pơ lang ở Tây Nguyên. Các trường ca của Tây Nguyên hay ví vẻ đẹp của người con gái với hoa pơ lang. Chỉ có trong tâm thức Việt, cây gạo mới có hình ảnh hướng về ma quái.  

Tại sao phải chọn quốc hoa?

Trong những năm tháng của một thời đã qua nhà thơ Tế Hanh từng chua xót viết câu thơ: "Khi quanh ta toàn những người thiết thực / Thấy bó rau xanh không thấy đóa hoa hồng". Một thời kỳ người ta không còn có cảm giác về hoa, cho hoa là một thứ phù phiếm, vô ích, không được bằng một bó rau xanh. Đó là vì gian khó chăng? Tôi không nghĩ như vậy. Trong những năm tháng gian khổ nhất trong chiến tranh, giữa bom rơi đạn nổ, nhà thơ Dương Hương Ly vẫn viết câu thơ; "Ta vẫn thầm hái hoa tặng nhau". Không phải không có hoa để phải thầm hái, mà là chiến tranh đã chia ly con người, không có cơ hội gặp mặt nhau để tặng nhau những bông hoa thực sự. "Bông hoa vươn thẳng, hắt một tia sáng trắng dịu lên vầng trăng đỏ ối - lúc này đây - giữa không gian khét lẹt và nóng bỏng, anh đã gặp lại hình ảnh này", đây là câu văn trong lá thư của một người chiến sĩ từ tiền tuyến gửi về trong truyện ngắn Có một đêm như thế. Tôi không có trải nghiệm về chiến tranh, không biết những năm tháng khốc liệt đấy, nhưng tôi tin rằng những năm tháng đấy vẫn đầy sắc màu và ngát hương của hoa.

Thế giới ngày nay là một thế giới đa dạng của các bản sắc. Các dân tộc, các đất nước đến với nhau khám phá những bản sắc mà mình chưa biết hay còn xa lạ. Việt Nam đang hội nhập và tham gia vào quá trình toàn cầu đấy. Có nhiều cách, nhiều hình thức, nhiều phương pháp khác nhau để khám phá những bản sắc đó, và mỗi dân tộc, đất nước đều phải sẵn sàng giới thiệu những bản sắc của mình. Đó không phải chỉ là thông lệ, mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ. Hoa là một hình thức khám phá bản sắc. Hoa không phải chỉ có màu sắc và hương vị, hoa còn chứa đựng chính trong nó những tầng lớp văn hóa của mảnh đất nuôi dưỡng nó. Blog của tôi là nơi giới thiệu rất nhiều hoa của vùng Đông Bắc Á, như những khám phá của riêng tôi về những vùng thế giới nơi tôi từng ghé qua. Các quốc gia trên thế giới lựa chọn quốc hoa như một giới thiệu và khẳng định bản sắc của mình qua những bông hoa. Ngắm hoa hải đường tôi nhớ tới Dương Ngọc Hoàn mà thực trên cõi đời này tôi đâu có biết nàng con gái họ Dương đấy như thế nào. Nhìn hoa chămpa tôi như thấy một đất nước Lào với những chùa chiền đất Phật. Thật khó nói, nhưng những bông hoa - quốc hoa như là những sứ giả của các đất nước mang đến cho tôi tâm hồn đất nước và con người của họ. Hoa chứa đựng những thông điệp, những ý nghĩa sâu thẳm mà ngôn ngữ nhiều khi không diễn đạt được. Phật Tổ ngày xưa chỉ lặng lẽ lấy một cành hoa đưa lên và chỉ có Ca Diếp mỉm cười. Thông điệp  trao đổi giữa Phật Tổ và Ca Diếp thông qua một cành hoa. Không phải ai thấy hoa cũng cũng mỉm cười. Cũng như nhà thơ Tế Hanh từng chua xót không phải ai cũng nhìn thấy đóa hoa hồng, những người thiết thực chỉ thấy bó rau xanh thôi.

Có những buổi lễ trong giấy mời ghi rõ yêu cầu người tham dự phải mặc lễ phục. Áo phông, quần bò không thích hợp. Không phải áo phông, quần bò không đẹp, mà vì áo phông, quần bò không thích hợp trong nhận thức chung về buổi lễ đấy. Các nước ASEAN đều có quốc hoa chính thức, ngoại trừ một nước duy nhất là Việt nam. Khuyết quốc hoa của Việt Nam khiến các nước ASEAN thiếu tề chỉnh, không tiến hành được các trao đổi và giới thiệu bản sắc các nước ASEAN với nhau và với thế giới qua hình thức hoa. Một tình thế rất bất tiện cho Việt Nam trong hội nhập với các nước xung quanh và thế giới.  Các nước trên thế giới chưa có quốc hoa cũng ở trong những hình thức bất tiện mà chính họ cũng đang nỗ lực lựa chọn quốc hoa cho mình. Trung Quốc đang tiến hành lựa chọn quốc hoa là một ví dụ. Nhật Bản chưa có quốc hoa chính thức, khác với nhiều người nghĩ, vì họ ở trong một tình thế đặc biệt. Hoa anh đào được coi là biểu tượng của đất nước và con người Nhật Bản, nhưng là một thứ quốc hoa de facto, chưa được Chính phủ Nhật Bản thông qua, bởi vì Hoàng gia Nhật đã có biểu tượng hoa cúc từ lâu trong lịch sử của mình. Đấy dường như là một điều không thể lựa chọn được đối với người Nhật. Việt Nam không ở trong tình thế như nước Nhật và không có lý do gì để mà khước từ lựa chọn quốc hoa. Nếu giữa những quan điểm, ý kiến khác nhau về quốc hoa mà Việt Nam không thể lựa chọn được một quyết định cuối cùng thì điều này chỉ chứng tỏ rằng Việt Nam là một đất nước chia rẽ và mỗi người Việt chỉ biết đến mỗi một mình mình mà thôi. 

Có nên chọn lúa làm quốc hoa?

Thể thao và văn hóa có bài viết nêu đề nghị chọn hoa lúa làm quốc hoa. Tôi thấy không nên chọn hoa lúa làm quốc hoa, vì những nguyên nhân sau:

Lúa là một cây lương thực. Mục đích của trồng lúa là để thu hoạch thóc gạo. Do vậy bất kể hoa lúa có đẹp đến mức độ nào không ai lấy việc trồng lúa để thưởng thức hoa. Hoa lúa chỉ là một thời kỳ "quá độ" để thu được hạt. Đem hoa lúa làm đối tượng thẩm mỹ như là hoa là đã chuyển đổi mục đích trồng lúa. Việc chuyển đổi này rất hệ trọng và đem lại hệ quả không mấy hay ho trong mắt thế giới, bởi vì lương thực và an ninh lương thực là một vấn toàn cầu, lấy lúa làm hoa là một hình thức rẻ rúng vấn đề lương thực của cây lúa.

Hoa lúa có lẽ đã là một tên gọi trong tiếng Việt hiện đại. Tên truyền thống của nó có lẽ là bông, đòng đòng. Tên truyền thống cho thấy hoa lúa trong truyền thống văn hóa không phải là đối tượng thẩm mỹ như hoa. Hay nói một cách khác, hoa lúa chưa bao giờ được coi như là một thứ hoa thưởng lãm thực sự. Canada lấy biểu tượng lá phong, không vì lá phong không phải là hoa, mà vì lá phong được coi như là một thứ hoa.

Quốc hoa trước hết phải là hoa, một đối tượng thẩm mỹ, hơn là một đối tượng sinh sản. Và đối tượng thẩm mỹ đấy phải có bề dày trong truyền thống và văn hóa của dân tộc.    

Hoa hồng - quốc hoa

Hoa hồng được một số quốc gia chọn làm quốc hoa. Nhưng ở đây cũng xin lưu ý là khác với hoa sen, chi hoa hồng có nhiều loài khác nhau. Năm 1986, nước Mỹ chọn hoa hồng làm quốc hoa. Hoa hồng của nước Mỹ là hoa hồng phổ thông, tức là thứ hoa hồng bình thường thấy hằng ngày. Quốc hoa của Iran cũng là hoa hồng, nhưng là hoa hồng Damask. Quốc hoa của Maldives cũng là hoa hồng, nhưng là hoa hồng Rose Polyantha. Biểu tượng hoa chính thức của nước Anh cũng là hoa hồng, nhưng là hoa hổng Tudor, một biểu tượng gồm hoa hồng trắng trên hoa hồng đỏ. Romania cũng chọn hoa hồng làm quốc hoa, nhưng là hoa hồng Rose canina.

Quốc hoa của Ấn Độ


Ảnh Quốc hoa của Ấn Độ: hoa sen
(nguồn: india.gov.in)

Đây là thông tin chính thức về quốc hoa của Ấn Độ, trên trang web thuộc Chính phủ  Ấn Độ: Quốc hoa của Ấn Độ là hoa sen (Nelumbo nucifera Gaertn). Họ sen là họ hoa rất đặc biệt, chỉ có một chi duy nhất  và có hai loài: một là sen Ấn Độ (Nelumbo nucifera) và hai là sen Mỹ (Nelumbo lutea). Quốc hoa của Ấn Độ là hoa sen có màu cả trắng lẫn hồng. Tôi không biết căn cứ vào đâu mà có người cho rằng quốc hoa của Ấn Độ là hoa sen trắng. Khi chọn quốc hoa còn phải chỉ tên khoa học cụ thể, chứ không phải chỉ vu vơ là trắng hay hồng. Sẽ rất buồn cười nếu chọn hoa sen làm quốc hoa và khi phải nói cụ thể thì thành: quốc hoa của Việt Nam là hoa sen Ấn Độ. Đáng tiếc, trên thế giới người ta không gọi hoa sen Nelumbo nucifera là hoa sen Việt.

Quốc hoa: đào-sen-mai

Suy nghĩ về lựa chon quốc hoa, tôi thấy tại sao lại giới hạn chọn một loại hoa duy nhất làm quốc hoa, mà không chọn một bộ hoa gồm một số loại hoa tiêu biểu làm quốc hoa. Với ý nghĩ này tôi đề nghị chọn: đào-sen-mai làm quốc hoa. Bộ hoa đào-sen-mai này tiêu biểu cho văn hóa ba miền Bắc-Trung-Nam của đất nước. Đặt hoa sen trong bộ đào-sen-mai tránh được sự trùng hợp với quốc hoa của Ấn Độ. Hoa đào đặc trưng cho miền Bắc, hoa mai đặc trưng cho miền Nam, hai điểm này ai cũng dễ đồng ý. Hoa sen có tượng trưng cho miền Trung? Nhân đỉnh, một trong chín cái đỉnh đặt ở Thái Miếu của triều Nguyễn, có khắc hình hoa sen, sông Hương, núi Ngự, cho thấy ngay từ xưa hoa sen đã là một nét đặc trưng tiêu biểu của Huế.

Vậy chọn ba loại hoa cùng làm quốc hoa có kỳ quặc không? Tôi cho rằng không. Indonesia  đã chọn ba loại hoa khác nhau làm quốc hoa: hoa nhài sambac, hoa lan hồ điệp và hoa patma raksasa.Trung Quốc cũng chưa chọn quốc hoa chính thức, và họ cũng đang tranh luận về lựa chọn quốc hoa. 62 viện sĩ viện Hàm lâm của Trung Quốc đã đề nghị chọn song quốc hoa là hoa mẫu đơn và hoa mai. Bên cạnh song quốc hoa, người Trung Quốc còn có đề nghị chon tứ quốc hoa (mẫu đơn-mai-cúc-súng) hay ngũ quốc hoa (mẫu đơn-cúc-mai-lan-súng). Như vậy chọn bộ hoa làm quốc hoa không phải là một điều gì đó kỳ quặc. Nếu Việt Nam chon bộ đào-sen-mai làm quốc hoa thì Việt Nam sẽ đi trước Trung Quốc trong sáng tạo quốc hoa không phải là một loại hoa đơn nhất.

Bộ hoa đào-sen-mai tránh được nhược điểm mà một loại hoa trong ba loại hoa này đứng riêng rẽ. So với những lựa chọn khác như tre, cau... bộ đào-sen-mai có ưu thế hơn hẳn. Vậy còn chần chừ gì nữa mà không chọn bộ đào-sen-mai làm quốc hoa?

Quốc hoa

Tôi đọc thấy thông tin Bộ VH-TT-DL đang chuẩn bị lựa chọn quốc hoa cho Việt Nam, và có lẽ hoa sen sẽ được chọn. Tôi không tán thành lựa chon này và cảm thấy đó là một lựa chọn sai lầm. Ấn Độ đã chọn hoa sen làm quốc hoa của họ, và có một bề dày lịch sử, văn hóa về hoa sen. Hoa sen trong tâm thức Ấn Độ (Hindu) là một thứ hoa thần thánh, linh thiêng. Thần thoại Hindu đã cho ba vị thần Brahma, Vishnu, Shiva ngồi trên tòa sen, mà một hình ảnh muộn hơn là Phật Thích Ca Mâu Ni với hoa sen có lẽ cũng không nằm ngoài truyền thống văn hóa này của Ấn Độ. Câu chú Om mani padme hum có trực nghĩa là ngọc quý trong tâm sen. Ngoài truyền thống văn hóa về hoa sen, Ấn Độ còn được coi là nơi phát tích, đất bản địa của hoa sen về mặt khoa học. Chính vì có những đặc điểm như vậy mà hoa sen trong tiếng Anh còn được gọi là Indian lotus, Sacred lotus. Như vậy xét về đặc điểm truyền thống, văn hóa và khoa học, Việt Nam không có một điểm nào có thể so được với Ấn Độ trong chuyện hoa sen. Ngoài Ấn Độ có Macau cũng lấy hoa sen làm biểu tượng. Nhưng Macau không phải là một quốc gia. Biểu tượng hoa của các thành phố, tỉnh, hay các vùng lãnh thổ có thể trùng nhau, bởi vì ở đấy đặc điểm văn hóa dân tộc không phải là yếu tố chủ đạo. Hoa sen có mặt trong văn hóa Việt Nam chủ yếu là do ảnh hưởng của Phật giáo với xuất xứ từ Ấn Độ. Những đặc điểm của hoa sen mà có lẽ nhiều người Việt tưởng rằng là nét riêng biệt, đặc sắc của Việt Nam như kiểu "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" cũng đã có mặt trong văn hóa Ấn Độ. Nếu Việt Nam muốn chứng tỏ rằng mình là một bản sao văn hóa của Ấn Độ hay một tương đồng với địa vị của Macau thì lấy hoa sen làm quốc hoa. 

Một điểm nữa cũng cần lưu ý là hay có nhầm lẫn hay nhập nhằng giữa hoa sen và hoa súng. Quốc hoa của Sri Lanka là hoa súng (tên khoa học là Nymphaea nouchali), chứ không phải là hoa sen. Hoa sen và hoa súng là các loài hoa khác nhau. Hoa sen có tên khoa học là Nelumbo nucifera, trong khi hoa súng thuộc chi Nymphaea. Quốc hoa của Ai Cập cũng là hoa súng với tên khoa học là Nymphaea coerulea, khác với quốc hoa của Sri Lanka.  

Di sản văn hóa của Việt Nam Cộng hòa

Nhân có vụ ồn ào về quyển sách Việt Nam hướng tới một nền giáo dục hiện đại mà tôi để ý đến các sách Đăng khoa lục. Và tôi thấy các quyển Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Quốc triều đăng khoa lục đã từng được dịch và xuất bản dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Các quyển sách này đều được Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, tức có lẽ là sách được nhà nước bảo trợ. Điều này cho thấy Việt Nam Cộng hòa đã để lại những di sản văn hóa có giá trị. Tôi không biết có những con số thống kê nào không về xuất bản ở Việt Nam Cộng hòa, nhưng tôi nghĩ rằng di sản văn hóa của Việt Nam Cộng hòa để lại không nhỏ, có tầm cỡ, và cũng không thua kém Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.  Tôi nghĩ đại khái như vậy, vì so sánh cũng rất khó, tiêu chí so sánh biết như thế nào cho hợp lý. Nhưng điều quan trọng tôi nghĩ rằng di sản văn hóa của hai miền Nam Bắc có thể bổ sung cho nhau, mỗi miền có những điểm đặc thù riêng biệt, tập hợp lại thành những thành tựu văn hóa chung của Việt Nam.

Xem thư mục quyển Các nhà khoa bảng Việt Nam tôi không thấy có hai bản dịch quyển Lịch triều và Quốc triều đăng khoa lục. Đây chính là điểm mà tôi cảm thấy không được trọn vẹn. Quyển Các nhà khoa bảng Việt Nam có thể coi là một tập đại thành về các nhà khoa bảng của đất nước trong các triều đại lịch sử. Vì mang tính chất như một tập đại thành nên chắc chắn về sau người ta sẽ chỉ dẫn chiếu quyển sách này mà thôi. Các bản dịch trước đấy sẽ bị lãng quên và có thể biến mất không để lại dấu vết. Tuy các bản dịch Đăng khoa lục trước đây chưa đầy đủ và chưa  cập nhật được địa danh hiện nay, nhưng đó là các bản dịch đầu tiên mang tính chất khai sơn phá thạch trong lĩnh vực nghiên cứu về chế độ khoa bảng trong lịch sử Việt Nam. Khi làm các tập đại thành, tôi nghĩ công lao của những người đi trước, mở đường cũng nên nhắc đến, ghi lại như những đóng góp của tiền nhân. Bản dịch Quốc triều đăng khoa lục của Lê Mạnh Liêu may mắn hơn vì Quốc triều đăng khoa lục vốn do Cao Xuân Dục biên soạn và do vậy bản dịch của Lê Mạnh Liêu được tái xuất bản trong bộ trước tác của Cao Xuân Dục. Bản dịch của Lê Mạnh Liêu được NXB Văn học in năm 2001 và do Nguyễn Đăng Na hiệu đính. Về danh chính ngôn thuận, ai cũng có thể dịch lại Quốc triều đăng khoa lục, bổ sung hoàn thiện thêm bản dịch, và làm như vậy có thể xóa sổ bản dịch của Lê Mạnh Liêu. Nhưng Nguyễn Đăng Na đã không làm như vậy. Người dịch Quốc triều đăng khoa lục vẫn là Lê Mạnh Liêu, Nguyễn Đăng Na chỉ hiệu đính lại. Tôi nghĩ đó là cách ứng xử đẹp với các di sản văn hóa.

Tôi viết về bản dịch Đăng khoa lục này chỉ như là một ví dụ về di sản văn hóa của Việt Nam Cộng hòa. Kho tàng di sản đó chắc còn nhiều hình trạng nữa, và có thể có những thứ đã thực sự bị quên lãng hay biến mất rồi. Và điều quan trọng hơn là chúng ta ứng xử với di sản đó như thế nào. Chúng ta sẽ làm lại những cái mới và coi như không biết gì về di sản đã có hay khôi phục, hiệu đính, bổ sung để hoàn thiện lại tinh hoa của một thời đã qua?


Có hay không đạo văn trong "Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại"?

Đang rộ lên chuyện cáo buộc ông Nguyễn Đình Hương viết quyển sách "Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại" đã đạo văn quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" do ông Ngô Đức Thọ chủ biên. Tôi chưa đọc hai quyển sách này, nhưng tôi tìm được mục lục quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" bằng Google, và đã đọc các bài báo trên mạng về vấn đề này. Dưới đây tôi sẽ đưa ra quan điểm của tôi về chuyện đạo văn này. Tôi biết rằng bàn luận về vấn đề này mà không cần đọc hai quyển sách để đối chiếu thì thật là nguy hiểm, nhưng tôi thấy rằng vấn đề ở đây khá rõ ràng và có thể đưa ra quan điểm của mình để mọi người tham chiếu, kiểm định mà không sợ sai. Chuyện cũng không có gì phức tạp lắm.

Trước tiên tôi thấy rằng cần phải phân biệt rạch ròi chuyện đạo văn với chất lượng của quyển sách. Nếu quyển sách có những chỗ viết sai, viết chưa đúng thì vấn đề này hoàn toàn độc lập với vấn đề đạo văn. Ông Ngô Đức Thọ có nêu ra vấn đề sai kiến thức cơ bản của ông Nguyễn Đình Hương và như vậy là đã đánh tráo hay nhào trộn vấn đề đạo văn với vấn đề chất lượng quyển sách, làm rắc rối vấn đề và có thể tạo ra những ngộ nhận  không cần thiết ở người đọc. Kiến thức cơ bản của ông Nguyễn Đình Hương về chữ Nôm, về khoa cử hay về lịch sử Việt Nam được trình bày trong quyển sách hoàn toàn độc lập và không có liên quan gì tới với vấn đề đạo văn. Chuyện này phải minh bạch, chuyện nào ra chuyện đấy.

Bây giờ tôi đề cập tới vấn đề đạo văn. Ông Ngô Đức Thọ cho rằng: "Ông ấy (GS Nguyễn Đình Hương - PV) đã tự đảo lộn tên, địa chỉ từng người theo địa phương và nhận rằng đó là sản phẩm của mình. Cũng là một người có học hàm, học vị GS mà ông ấy không hiểu cái khó nhất của một cuốn sách tiểu sử các nhà khoa bảng Việt Nam là ở việc quy đổi địa danh quê quán của ngót 3.000 tiến sĩ từ địa danh cổ ra địa danh bây giờ. Còn việc sắp xếp lại địa danh tiếng Việt thì với một lệnh cho máy tính, tôi có thể sắp xếp lại theo bất cứ tiêu chí nào. Ở ta, cho đến nay chưa có một cuốn từ điển địa danh nào giúp tra cứu địa danh xưa-nay đến đơn vị xã thôn." Tôi xem mục lục quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" do ông Ngô Đức Thọ chủ biên thì tôi hiểu ra vấn đề. Quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" sắp xếp các nhà khoa bảng theo thứ tự thời gian, mà cụ thể là theo thứ tự các triều đại ở Việt Nam, bắt đầu là triều Lý-Trần-Hồ và kết thúc ở triều Nguyễn. Đọc cáo buộc của ông Ngô Đức Thọ tôi hiểu rằng trong quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" trong tiểu sử của các nhà khoa bảng này có địa danh quê quán của các nhà khoa bảng. Song tôi muốn lưu ý một điểm: quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" không sắp xếp các nhà khoa bảng theo địa danh quê quán. Chẳng hạn tôi muốn tra Bắc Ninh có các nhà khoa bảng nào trong lịch sử thì quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" không đáp ứng được nhu cầu của tôi. Tất nhiên nếu tôi bỏ thời gian ngồi đọc từng tiểu sử của các nhà khoa bảng trong quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" tôi cũng có thể biết được Bắc Ninh có các nhà khoa bảng nào trong lịch sử Việt Nam, nhưng điều này mất thời gian và công sức. Trong khi đấy quyển "Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại" lại thỏa mãn nhu cầu của tôi. Phải thấy rằng ý tưởng sắp xếp các nhà khoa bảng theo địa danh là một ý tưởng có ý nghĩa và giá trị và ý tưởng này là ý tưởng của ông Nguyễn Đình Hương. Ông Ngô Đức Thọ và cộng sự khi biên soạn quyển sách của mình đã không có ý tưởng như vậy. Việc thực hiện ý tưởng này dễ hay khó lại là một vấn đề khác, và không liên quan tới chuyện đạo văn. Ông Ngô Đức Thọ cho rằng sắp xếp theo địa danh chỉ cần một lệnh máy tính, nhưng đây lại là vấn đề kỹ thuật, không phải là vấn đề ý tưởng, và không liên quan tới chuyện đạo văn. Ngoài ra cần phải thấy rằng chỉ khi có cơ sở dữ liệu về các nhà khoa bảng ở dạng kỹ thuật số thì thao tác sắp xếp theo địa danh mới không phức tạp. Nhưng để có được cơ sở dữ liệu về các nhà khoa bảng ở dạng kỹ thuật số từ quyển sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam" cũng phải mất thời gian và công sức chứ không phải dễ dàng có ngay lập tức. Song vấn đề chính yếu ở đây là ý tưởng và ai có ý tưởng sắp xếp các nhà khoa bảng theo địa danh? Ý tưởng chưa có ai trước đấy nghĩ ra không phải là đạo văn, mà là một sáng kiến hay phát kiến. Tất nhiên quyển "Việt Nam hướng tới nền giáo dục hiện đại" đã sử dụng thông tin trong quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam" để sắp xếp theo địa danh, nhưng đó không phải là đạo văn nếu trong thư mục các tài liệu sử dụng có nêu tên quyển "Các nhà khoa bảng Việt Nam". Ngoài ra cũng nên lưu ý rằng danh sách các nhà khoa bảng đã có trong sách Đăng khoa lục, và theo như ông Ngô Đức Thọ cái khó ở dịch quyển Đăng khoa lục là việc quy đổi địa danh quê quán. Quy đổi địa danh quê quán không tương đương cũng như không đồng nghĩa hay cùng loại với sắp xếp các nhà khoa bảng theo địa danh quê quán.

Tôi thấy rằng công luận cần phải nhìn nhận vấn đề đạo văn cho rõ ràng và không nên nhập nhằng các vấn đề khác nhau vào chung trong một câu chuyện. Cuối cùng tuy không thật cần thiết nhưng tôi cũng muốn tuyên bố rằng tôi không quen biết cả hai ông Nguyễn Đình Hương lẫn Ngô Đức Thọ. 

Bàn về khai ấn

Nhân chuyện nghi ngờ về ấn đền Trần mà nảy sinh ra vấn đề lễ khai ấn có thật hay không trong lịch sử. Phần trước tôi đã trích dẫn một số tài liệu cho thấy thư tịch lịch sử có chép về khóa ấn, khai ấn, phong ấn, phất thức. Các hoạt động này chỉ là định lệ. Đến thời Minh Mạng phong ấn và phất thức mới trở thành điển lệ ở triều đình. Còn ở các địa phương phong ấn và khai ấn chỉ như là định lệ, đóng vai trò như đánh dấu ngày bắt đầu nghỉ làm việc và ngày bắt đầu làm việc trong dịp lễ Tết. Nhưng ở đây cũng thấy rằng phong ấn và khai ấn được ghi trong thư tịch lịch sử là các hoạt động của bộ máy công quyền. Vậy các đền, điện thờ có định lệ phong ấn và khai ấn không? Tôi nghĩ rằng các định lệ này quá nhỏ để có thể được ghi chép trong thư tịch. Song một điều tất yếu chắc phải xảy ra là nếu có ấn được sử dụng thì khả năng có định lệ phong ấn và khai ấn là khá cao. Vậy ấn ở đền, điện thờ được dùng vào việc gì? Ấn ở đền, điện thờ được dùng để đóng dấu lên các bùa chú. Các bùa chú có thể có các loại khác nhau như để trừ tà, đuổi yêu, chữa bệnh... Tờ ấn ở đền Trần cũng không phải là ngoại lệ. Đó là một dạng bùa chú. Hàng chữ "Tích phúc vô cương" thể hiện rất rõ đấy là bùa chú, bởi vì lá bùa này ban phúc vô cùng cho người có nó. Do vậy có thể tin rằng lễ khai ấn ở đền Trần là một định lệ, đánh dấu ngày bắt đầu hoạt động của đền Trần trong việc cung cấp bùa chú. Tôi tin rằng có lễ khai ấn thì bắt buộc phải có lễ phong ấn vào dịp sát Tết.

Bùa chú là một tín ngưỡng dân gian. Đây là phong tục hay đây là hủ tục? Tôi thấy các đền chùa ở Nhật Bản cũng bán các túi bùa nho nhỏ đeo vào người để trừ tà đuổi yêu. Bùa chú về một mặt nào đó cũng có tác dụng tích cực về mặt tâm lý. Do vậy cũng không nhất thiết phải xóa bỏ bùa chú. Chỉ cần xóa bỏ các hoạt động mê tín có tác hại cho con người như đốt bùa chú lấy nước uống chữa bệnh. Nhưng có một vấn đề quan trọng ở đây là có nên biến các định lệ mang tính chất tín ngưỡng dân gian như hoạt động khai ấn tạo bùa chú thành điển lệ quốc gia? Tôi cho rằng không nên. Chính quyền không ngăn cản các hoạt động như vậy, song cũng không nên tham gia vào. Bởi vì chính quyền không thể là một quyền thế tín ngưỡng.  


Nghĩ về lễ Tịch điền

Sau những băn khoăn nhất định về tổ chức lễ hội, lễ Tịch điền đã diễn ra và có thể nói là tốt đẹp. Trang phục của Chủ tịch nước trong lễ Tịch điền có thể nói là được. Bên cạnh những thành công, lễ Tịch điền cũng bộc lộ những nhược điểm của nó. Tạm thời không bàn tới những chi tiết không lớn về tổ chức lễ hội, như đeo mặt nạ giả làm vua Lê Hoàn, một yếu tố lạ trong văn hóa Việt Nam. Ngay trong biểu diễn nghệ thuật, kịch nghệ Việt Nam truyền thống đều không sử dụng mặt nạ, tuy có trang điểm, hóa trang khuôn mặt theo những quy tắc nhất định. Nhược điểm lớn nhất của lễ Tịch điền là tính hiện đại và khoa học. Ngay từ năm 1943 Đề cương Văn hóa đã đưa ra khẩu hiệu về các hoạt động văn hóa: dân tộc, đại chúng và khoa học. Lễ Tịch điền thể hiện được hai đặc điểm: dân tộc và đại chúng. Lễ Tịch điền thiếu một đặc điểm cốt tủy: khoa học, tức là tính hiện đại ngày nay. Thành ra người ta có thể diễu lễ Tịch điền là con trâu đi trước, cái cày đi sau, Chủ tịch nước còn đi sau cái cày. Ngay thực tế, nông dân ngày nay đã ít sử dụng trâu để kéo cày, các con trâu trong lễ Tịch điền đa phần là trâu thịt. Thế kỷ 21 mà vẫn còn con trâu kéo cày thì đấy là một điều hổ thẹn và đáng xấu hổ cho đất nước. Con trâu, cái cày vốn là biểu tượng của nghèo nàn và lạc hậu. Điều hổ thẹn đó lại được nâng tầm ở cấp độ quốc gia thì đấy là điều rất đáng phải suy nghĩ. Các nước từng có lễ Tịch điền như Trung quốc hay Hàn quốc đều không thấy phục dựng lại điển lễ này. Lễ Tịch điển có thể cải biến thành lễ hội, một hoạt động văn hóa cộng đồng, trong đấy có thể có biểu diễn trâu cày, như một tái hiện lại kỹ thuật nông nghiệp cổ điển, nhưng ở đấy Chủ tịch nước không thể đóng vai kép biểu diễn lại kỹ thuật cổ xưa đấy. Việc xây dựng lễ Tịch điền thành điển lễ quốc gia ngày nay rất cần phải thận trọng, bởi vì nó không có đủ các yếu tố mà Đề cương Văn hóa đã vạch ra.

Xây dựng một điển lễ thể hiện chính sách khuyến nông và truyền thống trọng nông của dân tộc là điều có thể nên làm. Nhưng lễ Tịch điền đã thiếu tính hiện đại và khoa học là điều cần phải cân nhắc trước khi biến nó thành điển lễ. Hồ Chí Minh là người có những hoạt động khuyến khích về nông nghiệp, nhưng đã không tổ chức lễ Tịch điền. Bên cạnh đó những hoạt động trồng cây nhân dịp năm mới được Hồ Chí Minh hay sử dụng. Trồng cây rõ ràng cũng mang nhiều ý nghĩa, không chỉ về nông nghiệp, mà còn về môi trường, tầm nhìn và tương lai, có đầy đủ các yếu tố: dân tộc, đại chúng và khoa học.  


Trang phục trong lễ Tịch điền

Vietnamnet đưa tin lãnh đạo nhà nước sẽ cày trong lễ Tịch điền, nhưng băn khoăn không biết trang phục cho vị lãnh đạo này sẽ như thế nào vì sử sách không thấy viết đến. Thư tịch của Việt Nam nhiều khi cũng dở, không viết tỉ mỉ cụ thể để cho con cháu đời sau còn hình dung. Nhưng lễ Tịch điền không phải là một phong tục của riêng người Việt Nam. Các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đều có lễ Tịch điền trong lịch sử của mình. Tôi tìm thấy ảnh một bức phù điêu ở Tây hồ, có tên là "Thân canh tịch điền đồ" miêu tả Hoàng đế Nam Tống cày ruộng Tịch điền. Bức phù điêu này là đồ hiện đại, được dựng theo sáng tác của Phó Bá Tinh, một danh họa và nhà báo thời nay. Phó Bá Tinh căn cứ vào Tống sử để vẽ. Có thể tin là bức phù điêu miêu tả chân thực cảnh cày ruộng trong lễ Tịch điền, ít nhất trong cảm nhận thời nay của người Trung Quốc. Xem bức phù điêu có thể thấy Hoàng đế Nam Tống mặc trang phục của vua thời bấy giờ, có tấm vải khoác sau lưng, đầu đội mũ. Người dắt trâu và phụ cày đều ăn mặc theo lối nông dân. Tôi không hiểu Việt Nam căn cứ vào đâu mà lễ Tịch điền năm ngoái cho người cày chính đeo mặt nạ theo kiểu Thần Nông. Trông rất kỳ dị. Thời Nam Tống tương đương với thời Lý ở Việt Nam, phong tục giữa hai nước có lẽ có điểm tương đồng. Vì vậy tôi nghĩ rằng lãnh đạo nhà nước cày ruộng tịch điền có thể mặc trang phục theo lối cổ truyền, và không nên đeo mặt nạ.

Photobucket

Cập nhật 28-1-2010

Tôi tìm thấy bức vẽ tịch điền trong quyển Nông thư của Vương Trinh thời nhà Nguyên. Bức vẽ này cho thấy vị vua mặc trang phục thiết triều, rất giống thời Hán-Đường.

Photobucket

Đây là bức "Thân canh đồ" trong "Đường thổ danh thắng đồ hội"

Photobucket

Đây là bức tranh vẽ "Khang Hi thân canh đồ" . Khang Hi bận triều phục

Photobucket

Đây là bức tranh vẽ lễ Tịch điền ở Myanmar. Vị quốc vương Myanmar mặc trang phục tiết lễ.

Photobucket

Còn đây là bức ảnh lễ Tịch điền ở Hàn Quốc vào năm 1909

Photobucket

Photobucket

Dưới đây không phải là điển lễ, chỉ là một số hình ảnh của Hồ Chí Minh, tham gia lao động trong các chuyến viếng thăm dân. Đúng là một bậc thầy về quan hệ công chúng và nghệ thuật tuyên truyền. Sau Hồ Chí Minh không thấy một lãnh đạo nào đạt được tầm như vậy trong quan hệ công chúng và tuyên truyền.

Photobucket

Photobucket

Thanh danh

Khi bình luận về văn chương ông Đỗ Phủ từng viết:

Văn chương thiên cổ sự
Đắc thất thốn tâm tri
Tác giả giai thù liệt
Danh thanh khởi lãng thùy

có nghĩa là: văn chương vốn là chuyện từ xưa, được mất chỉ có tấc lòng biết, tác giả mỗi người mỗi vẻ, nhưng danh tiếng há phải theo con sóng. Ý ông Đỗ Phủ muốn nói rằng danh tiếng mỗi người có được là phụ thuộc vào bản thân mình, chứ đâu có phải như con sóng, lúc lên lúc xuống, lúc nổi lúc chìm. Ở đây ông Đỗ Phủ chỉ nói đến danh tiếng (danh thanh), ông không nói đến thanh danh, tức là danh tiếng trong sạch. Có danh tiếng trong sạch, và cũng có danh tiếng ô trọc. Danh thanh không hẳn đã là thanh danh.

Tôi chợt nhớ tới thanh danh bởi vì tôi đọc bài viết về ông Hoài Thanh của ông Từ Sơn. Ông Từ Sơn là con trai của ông Hoài Thanh. Con bênh bố cũng là phải đạo. Nhưng ở đây tôi không muốn bàn tới phải hay không phải, đúng hay không đúng. Tôi muốn nói đến thanh danh. Ông Hoài Thanh bị ông Xuân Sách viết như thế này:

Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát, lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan

Danh tiếng của ông Hoài Thanh trở thành thứ danh tiếng ô trọc trong con mắt của ông Xuân Sách: Nửa đời sau lại vị người ngồi trên. Tôi không biết ông Hoài Thanh có cảm xúc như thế nào khi nghe được câu thơ này. Chắc hẳn là đau lắm. Cái nỗi đau còn truyền lại sang cho người con, sang ông Từ Sơn. Tôi không biết cái nỗi đau này còn truyền tiếp sang cho cháu chắt của ông Hoài Thanh nữa không. Thôi thì đợi chờ xem nỗi đau về danh tiếng truyền được mấy đời. Ông Từ Sơn có cố chứng minh thế nào đi nữa, nào là ông Hoài Thanh chỉ viết có 8 bài về thơ Tố Hữu mà toàn là những bài thơ hay của Tố Hữu không ai phủ nhận được hay sự nghiệp của ông Hoài Thanh đã được nhà nước công nhận bằng giải thưởng cao quý... thì những câu thơ của ông Xuân Sách vẫn trường tồn cùng năm tháng. Những câu thơ của ông Xuân Sách đã trở thành đánh giá của dân gian rồi. Làm sao có thể xóa nổi bia miệng tiếng đời? Bình thơ ông Tố Hữu, không phải chỉ có ông Hoài Thanh, mà còn khá nhiều người khác, thậm chí là ngợi ca quá lời, nhưng không ai bị coi là "vị người ngồi trên". Có thể là không công bằng cho ông Hoài Thanh, nhưng "vị người ngồi trên" không hẳn đã là vì khen thơ hay. Thanh danh của con người càng không phải do nhà nước công nhận. Thanh danh của con người là đánh giá của dân gian.

Các cụ ngày xưa rất cẩn thận với danh tiếng. Họ sợ để lại danh tiếng không hay cho con cháu. Thanh danh ở thời xưa đấy còn giá trị hơn cả của cải, danh vị. Đó là cái nhẹ khôn gánh của hiện hữu. Cuộc đời con người chỉ có một lần, không lặp lại, do đó không thể thử nghiệm để xem danh tiếng để lại như thế nào. Cái danh tiếng tưởng nhẹ như bấc đấy lại nặng vô cùng. Một đời không gánh nổi, đời sau lại phải gánh tiếp, như ông Từ Sơn đang gánh cho ông Hoài Thanh vậy. Những cố gắng vô vọng để giữ lại chút thanh danh đã mất trong mắt dân gian là nỗi đau khôn cùng, bởi vì đấy là sự vẫy vùng tuyệt vọng để níu lại cái vốn từng không có hay vốn từng đã mất. Nỗi đau không phải của một cá nhân, mà là nỗi đau của cả các thế hệ tiếp nối, nỗi đau của cả một đại gia đình, của cả một họ tộc. Có lẽ người xưa đã chiêm nghiệm ra điều này nên giữ gìn danh tiếng là điểm thường trực trong tâm khảm của mỗi người. Không phải "nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh" như Trương Hán Siêu từng viết, mà những kẻ bất nghĩa vẫn lưu danh đến muôn đời, nhưng đó không phải là thanh danh, mà là ô danh.