Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label tanka. Show all posts
Showing posts with label tanka. Show all posts

Vông mồng gà

Photobucket

いろみえて
うつろふ物は
世中の
人の心の
花にそありける

iro miede
utsurou mono wa
yo no naka no
hito no kokoro no
hana ni zo arikeru

Ono no Komachi

Sắc ngoài không phai
mà vẫn biến đổi
là hoa trong lòng
của người từng trải
ở cõi đời này

Lần đầu tôi thấy cây hoa này ở một con phố nhỏ ở Hà Nội. Tôi không biết cây hoa có tên là gì, hỏi những người bạn đi cùng cũng không ai biết. Về nhà tra Google mới biết là cây vông mồng gà, có tên khoa học là Erythrina crista-galli. Nhìn bức ảnh tôi chụp ở trên, bạn có nhận ra đặc điểm gì đặc biệt của Hà Nội không? Bụi. Bụi bám trên những chiếc lá. Hà Nội của tôi bụi bặm, đông đúc và ồn ào. Không gian ngột ngạt, chỉ còn những chùm hoa như những ngọn lửa trên cây, như phương Tây gọi cây là cây bông lửa (flame tree), và không biết đến bao giờ chúng mới bùng cháy cả Hà Nội này, và tôi chợt nhớ tới bài thơ của Akhmatova mà tôi đã từng dịch:

... Và tôi cảm thấy những ngọn lửa cháy rực
Bốc cùng tôi cho tới tận rạng đông
Và tôi vẫn chưa làm sao dò ra được
Chúng màu gì, những con mắt đó lạ lùng
Tất cả vừa run run vừa ca hát bốn phương
Lẫn cả tôi không nhận ra, ngươi kẻ thù hay bè bạn
Và mùa đông hay mùa hạ ở đây.
 

Núi thu

Photobucket

寂しさは 
その色としも
 なかりけり
真木立つ山の 
秋の夕暮

sabishisa wa
sono iro to shimo
nakarikeri
maki tatsu yama no
aki no yugure

Jakuren (Pháp sư Tịch Liên)

Tịch liêu
với những sắc màu đó
không có liên quan gì;
những cây xanh trên núi
trong chiều tối mùa thu

Bài tanka tuyệt mệnh của Dazai

池水は,  濁りににごり,  藤なみの, 影もうつらず,  雨ふりしきる.
伊藤左千夫

ikemizu wa
nigori ni nigori
fuji nami no
kage mo utsurazu
ame furishikiru
Ito Sachio

Nước ao
đục càng đục
sóng hoa tử đằng
bóng không còn soi nữa
mưa vẫn rơi

Trước khi trẫm mình tự tử, Dazai Osamu để lại trên bàn viết của mình bản thảo truyện Guddo bai, di chúc và bài tanka trên của Ito Sachio.

Lá thu

Photobucket
Kaze fukeba
otsuru momijiba
mizu kiyomi
chiranu kage sae
soko ni mietsutsu

Oshikochi no Mitsune

Gió thổi
những chiếc lá phong rơi
nước trong veo
những chiếc lá chưa bay
tận đáy còn thấy chúng

Bài tanka này nằm trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 304. Một khung cảnh rất đặc trưng của mùa thu: những cây phong soi mình xuống nước. Những chiếc lá phong bị gió thổi rụng tản mát khắp mặt nước. Vì làn nước mùa thu quá trong, những chiếc lá còn trên cành phản chiếu xuống làn nước cứ như là chúng đã bị gió thổi rụng xuống tận đáy nước. Bóng lá dưới đáy nước là ảo, lá trên cành là thực. Thực và ảo lẫn vào nhau, không còn phân biệt được đâu là thực, đâu là ảo. Mùa thu là mùa của hồ đồ, nhìn đâu cũng tưởng là thực, thấy đâu cũng ngỡ là ảo. Một bức tranh đầy màu sắc hư thực. Không biết có trường phái hư thực trong hội họa không, nhưng mùa thu là một họa sĩ điêu luyện của hư thực. Đi giữa mùa thu, ta đang đi trong hư hay trong thực, một khoảnh khắc lấp lánh đầy màu sắc và chứa chan hư thực đến không ngờ.  

Photobucket

Tử châu

Photobucket

Tôi không biết phải gọi loại quả này như thế nào cho phải. Mỗi khi thu về, khi các loại quả khác cho màu đỏ rực rỡ, loại quả này lại có một màu tím biếc. Tôi gọi tử châu, những viên ngọc châu màu tím, mà luôn cảm thấy luyến tiếc vô cùng. Không phải cái tên "tử châu" tôi lấy của người Trung Quốc mà đâm ra có cảm giác như thế. Loại quả cây này vốn có tên gọi là Murasaki Shikibu, tên của nhà văn nữ lừng danh của Nhật Bản, tác giả của thiên tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới, một di sản văn hóa vĩ đại của nhân loại, Truyện kể Genji (Genji Monogatari). Murasaki đọc theo âm Hán Việt là "tử", có nghĩa là màu tím. Cây Murasaki Shikibu này là loại cây bản địa và đặc hữu của Nhật Bản. Vì vậy lẽ ra phải gọi nó là Murasaki Shikibu. Nhưng tôi cảm thấy tên gọi này dài và xa lạ quá. Nó thiếu sự thân thiết và gợi cảm trong tiếng Việt. Tên người thì không sao, nhưng tên cây cối thì lại khác. Tên khoa học của cây là Callicarpa japonica.

Nhìn những chùm quả tử châu tôi cảm thấy chiều thu như tím hơn. Một màu tím khiến ta nhớ tới Murasaki Shikibu, nhớ tới Truyện kể Genji. Cây cỏ không phải là giống hữu tình nhưng chúng gợi nhớ tới những tầng văn hóa đặc sắc của nhân loại. Những viên châu màu tím đấy và chàng Genji có gì liên quan với nhau? Chương thứ 5 của Truyện kể Genji là chương Waka Murasaki, Nhược Tử, Nàng Murasaki nhỏ, Nàng Tử nhỏ. Tôi hình dung nàng mặc chiếc áo khoác dài màu tím của mùa thu.  "Những người phụ nữ trẻ và những cô gái nhỏ đều rất đẹp trong trang phục mùa thu. Shonagon đã chu đáo mọi thứ. Murasaki cũng vậy, mặc rất đẹp. "Nàng đã lớn", chàng nói, vén chiếc rèm qua bên. Nàng e lệ ngồi ở một bên". Đây là một đoạn văn trong Truyện kể Genji.  

Nắm trong tay
chẳng bao lâu nữa
chăm sóc Murasaki
ngọn rễ của màu tím hoàng gia
vẫn còn trong đồng cỏ non

(taking it in hand
may I soon take care of
Murasaki
the root of royal purple
still in the field of young grasses)

Bài tanka trong Truyện kể Genji.

Mùa thu, mỗi chiếc lá, bông hoa, chùm quả đều mang trong mình một thế giới văn hóa sâu xa. Khi đi giữa mùa thu, đừng vội vã lướt qua, sẽ thấy xiết bao tầng văn hóa sâu thẳm nằm trong mỗi nhành cây, ngọn cỏ.


Photobucket

Hoa hagi

Hagi

Hoa hagi thuộc chi Lespedeza. Tên tiếng Anh là Bush clover hay Japanese clover. Hagi đọc theo âm Hán Việt là "thu", chữ "thu" trong mùa thu thêm bộ thảo. Người Trung Quốc gọi là "hồ chi tử". Tôi ngờ đây là tên phiên âm từ hagi. Hoa hagi thưởng nở vào mùa thu, thuộc nhóm thu thất thảo, bảy cây cỏ của mùa thu. Nhưng hoa hagi là cây thân mộc, không phải là cây thân thảo. Tôi nghĩ gọi là hagi hay hơn là thu, để khỏi lẫn với hoa thu. Hoa hagi hoàn toàn khác hoa tử đinh hương mà nhiều người nhầm lẫn.

Trong bài diễn từ nhận giải thưởng Nobel về văn chương, Kawabata có dẫn bài tanka của Hoàng hậu Eikufu:

Ma-hagi chiru niwa no akikaze mi ni shimite yuhi no kage zo kabe ni kieyuku

Bản dịch của tôi:

Hoa hagi bay bay
trên sân làn gió thu
nhiễm vào trong cơ thể
tịch dương dần khuất bóng
ở đằng sau bức tường

Kawabata nói về bài thơ này của Eikufu: "... một chủ nghĩa hiện thực tinh tế, đã trở thành một chủ nghĩa tượng trưng u buồn, một tâm hồn Nhật Bản vi diệu, và dường như đối với tôi cũng rất hiện đại."

Hagi

Táo dại

Táo dại

Táo dại là một tên gọi không được chuẩn lắm. Tôi nghĩ gọi là táo Á có khi thích hợp hơn vì tên khoa học của loại cây này là Malus asiatica. Người Trung Quốc gọi hoa táo dại này là "hoa hồng" ("hoa hồng" chứ không phải là "hồng hoa", kiểu tên gọi này hơi lạ) hay "lâm cầm". Người Nhật gọi cây này là waringo, ringo có nghĩa là táo.

Ishikawa Takuboku có bài tanka sau:

Ishikari no miyako no soto no
kimi ga ie
ringo no hana no chirite ya aramu

Bản dịch của tôi:

Ngoại ô
đô thành Ishikari
nhà bạn
hoa táo rụng đã nhiều?

Hoa táo rụng là thời kỳ kết thúc trổ hoa, bắt đầu kết quả. Hoa táo rụng là một hình ảnh đẹp (khác với hình ảnh trái táo rụng). Ở bài tanka này hoa táo là ký ức. Tác giả thực không biết nhà người bạn của mình hoa táo hiện nay như thế nào. Nhắc về nhà bạn, về hoa táo là nhớ tới kỷ niệm đã qua, một mùa hoa táo trổ hoa và kết quả. Câu hỏi dường như rất bình dị, nhưng không hỏi về người mà hỏi về hoa. "Hoa táo rụng đã nhiều?", câu hỏi có cảm xúc của ký ức sâu đậm không phai với thời gian và xa cách.

Táo dại

Táo dại

Mơ hoa

Photobucket

Trong bài diễn từ nhận giải thưởng Nobel, Kawabata có nói rằng: "người ta gọi Saigyo là nhà thơ của hoa anh đào". Saigyo có nghĩa là Tây hành, pháp danh của Sato Norikiyo, hay còn gọi là Viên Vị, một nhà sư ở thời kỳ Heian (Bình An) của Nhật. Bài tanka sau của Saigyo, khá nổi tiếng về hoa anh đao, vì tôi hay nhìn thấy:

Haru kaze no
hana wo chirasu to
miru yume wa
samete mo mune no
sawagu narikeri

Bản dịch của tôi:

Gió xuân
tán hoa
nhìn thấy trong mơ
tỉnh giấc mà trên ngực
phong tao còn vẩn vương

Chữ "phong tao" này tôi muốn đọc "phong" theo nghĩa là gió, không đọc theo nghĩa là phong tục, "tao" chỉ hành động của gió tán hoa, cũng có nghĩa là phong nhã. Gốc từ sawagu là chữ "tao" này. Bài thơ này vừa là mộng vừa là thực như là ảo như là thật. Thật là không có gió xuân tán hoa. Gió xuân tán hoa là mộng. Nhưng dư âm của gió xuân tán hoa lại là thực, như dư vị của giấc mộng, chút dư lại của ảo trong thế giới thực. Thông thường ta hay nghĩ ảo là dấu ấn của thực. Ở bài thơ này của Saigyo thực là dư vị còn lại của ảo. Nhưng ở đây ảo chính là vẻ đẹp hoàn mỹ, gió xuân tán hoa. Chỉ có sự tuyệt mỹ mới đủ sức mạnh để chuyển được từ ảo sang thực. Bài thơ không nói gió xuân tán hoa là tuyệt mỹ, nhưng chính nó lại toát lên vẻ tuyệt mỹ của gió xuân tán hoa. Đó là vẻ đẹp tinh tế của thi ca. Và cả của cuộc đời.

Anh đào và lá đỏ

Photobucket

Hoa anh đào đặc trưng cho mùa xuân. Lá đỏ tiêu biểu cho mùa thu. Ryokan có bài thơ tuyệt mệnh:

Katami tote nanika nokosamu haru wa hana yama-hototogisu aki wa momijiba.

qua bản dịch của tôi:

Kỷ niệm, còn những gì lưu lại?
mùa xuân là hoa
núi - chim cu hót
mùa thu là lá đỏ

Ba điểm đặc sắc của ba mùa xuân, hạ, thu: hoa mùa xuân, tiếng chim cu mùa hạ và lá đỏ mùa thu. Mùa cuối cùng, mùa đông, không nói tới, như một lời giã từ ẩn giấu. Bài thơ này của Ryokan được Kawabata nhắc đến trong bài diễn từ nhận giải thưởng Nobel Nhật Bản, vẻ đẹp và chính tôi. Kawabata viết rằng những câu thơ này "đã chuyển tải được bản chất sâu lắng của tâm hồn Nhật Bản". Xuân thu, hai mùa đối nhau, sao có thể đồng hiện trong cùng một lúc? Tôi bất chợt thấy hoa anh đào nở cùng cây phong lá đỏ. Thiên nhiên thật lạ kỳ. Hai mùa ở cùng một nơi, chung một lúc. Cứ như là hoa anh đào đang cố khoe sắc gọi mùa xuân về cùng với những chiếc lá đỏ đang cố lưu lại một mùa thu đã qua. Thiếu mỗi tiếng chim cu khắc khoải trong đêm hè là cả ba ký ức của Ryokan lại chợt hiện về.

Photobucket

Bông phấn

Photobucket

Đây là bông phấn. Hoa có rất nhiều màu sắc khác nhau, từ trắng đến hồng, tím, vàng. Người Nhật gọi hoa này là bạch phấn hoa (oshiroi-bana). Có lẽ tên "bông phấn" có xuất xứ từ Nhật. Người Trung Quốc gọi hoa này là tử mạt lị. Mạt lị có nghĩa là hoa nhài, có lẽ vì hoa thoang thoảng thơm. Tên hoa trong tiếng Anh là four o'clock flower hay marvel of Peru. Có tên "hoa bốn giờ" vì hoa nở vào buổi chiều, tầm khoảng 4 giờ. Tên khoa học của hoa là Mirabilis jalapa.

Bài tanka sau của Masaoka Shiki trong tập Những bài ca làng trúc:

yo-arashi no
nagori todomete
utsubuke ni
taorete sakeru
oshiroi no hana

Tôi dịch như sau:

Trận cuồng phong suốt đêm
tả tơi rơi xuống
cả những bông vừa nở
hoa phấn


Photobucket


Hoa lồng đèn

Hoa lồng đèn


Ở Việt Nam hoa này có tên gọi là "bụp lồng đèn". Tôi gọi đơn giản là hoa lồng đèn. Hình dạng bông hoa trông giống như một cái lồng đèn. Cây hoa này không phải là cây hoa bản địa ở Đông Á. Người Nhật gọi cây hoa này là "phù điếu mộc" (ukitsuriboku), có nghĩa là phao câu cá, có lẽ vì hình dạng của bông hoa trông giống như cái phao. Người Trung Quốc gọi cây hoa này là "đăng lung phong linh", có nghĩa là cái chuông gió hình lồng đèn. Tên khoa học của cây hoa là Abutilon megapotamicum.

Bài tanka sau của nhà sư Saigyo trong Tân cổ kim Hòa ca tập, bài số 299:

Even for one
who usually cares little
for things of the world
they stir the heart
first winds of autumn

Bài tanka này tôi lấy từ tập sách Basho journey, bản tiếng Anh, và dịch ra tiếng Việt như sau với hiệu chỉnh chút trật tự theo nguyên bản:

Với tất cả mọi thứ
Không còn quan tâm gì
Ngay với người như thế
Trái tim vẫn xao xuyến
Trận gió thu đầu mùa

Bài tanka này không có gì liên quan tới hoa lồng đèn. Tôi chỉ chợt nhớ trung thu sắp đến và những lồng đèn đỏ lại được treo khắp phố phường. Trận gió đầu tiên của mùa thu, cũng như cơn mưa đầu tiên của mùa hạ, những bông tuyết đầu tiên rơi xuống của mùa đông hay những bông hoa hé nở đầu tiên của mùa xuân luôn đem lại một cảm giác rung động xao xuyến của một mùa đang tới. Cái cảm giác đấy rất kỳ lạ và khó diễn tả, chỉ có thể cảm nhận, một chút mơ hồ về thay đổi đang tới. Ngay cả đối với người bàng quan, không thể không cảm thấy trận gió thu đầu mùa.


Hoa lồng đèn


Hoa rẻ quạt

Hoa rẻ quạt

Đây là hoa rẻ quạt. Cái tên này có lẽ được dịch từ tên "cối phiến" (hi-ougi) của người Nhật. Người Trung Quốc gọi hoa này là "xạ can" có nghĩa là cái mộc đỡ tên bắn. Họ còn đặt biệt danh cho hoa là "giác tiễn lan", hoa lan giác tiễn, "giác tiễn" là cái kéo. Như vậy có thể thấy tùy theo trí tưởng tượng của con người về hình dạng bông hoa mà có thể gọi hoa bằng các tên khác nhau. Tên khoa học của hoa là Belamcanda chinensis.

Bài tanka sau ở trong Vạn diệp tập, bài số 89, khuyết danh:

Wi akasite
Kimi woba matamu
Nubatama no
A ga kuro-kami ni
Simo va vuru tomo

Bản romaji trên tôi lấy từ quyển The Manyoshu, translated and annotated của J.L. Pierson. Tôi dịch theo bản giải nghĩa bằng tiếng Anh trong quyển sách này:

Ngồi đến tận bình minh
Đợi chờ anh đến gặp
Như những quả rẻ quạt
Mái tóc em đen huyền
Lấm tấm trắng đọng sương

Cây rẻ quạt cho quả đen huyền như những hạt trân châu. Mái tóc của người con gái trong bài tanka đen huyền ví như màu sắc của những quả rẻ quạt. Người con gái đợi chờ suốt đêm người tình của mình, chờ  đến tận bình minh. Những giọt sương đã bám trên mái tóc đen huyền lấm tấm trắng. Sương trên mái tóc đen hay chính mái tóc trong một đêm đợi chờ người yêu tới đã lấm tấm bạc. Đời một người con gái có thể chịu được bao đêm như vậy để một sáng mai chưa thành bà lão bạc phơ mái đầu?


Hoa rẻ quạt


Thài lài xanh

Thài là xanh

Hoa này là hoa thài lài chính gốc, khác với hoa thài lài tím là tên ngoại suy. Tên khoa học của hoa là Commelina communis. Chi Commelina được gọi là chi thài lài. Tôi không biết "thài lài" có nghĩa gì. Cây hoa này trong tiếng Nhật được gọi là "lộ thảo" (tsuyukusa), có nghĩa là "cỏ sương", một cái tên khá hay. Hoa này cứ đến chiều là cụp mất. Hình dạng của hoa thài lài này cũng ngộ nghĩnh. Có hai cánh xanh lục ở phía trên,  và nhị hoa dài vươn ra phía dưới. Người Trung Quốc còn gọi cây hoa này là "áp chích thảo", có nghĩa là "cỏ chân vịt".

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 795, khuyết danh:

yo no naka no
hito no kokoro wa
hanazome no
utsuroi yasuki
iro ni zo arikeru

Bản dịch của tôi:

Ở trong cõi đời này
Tình người là sao vậy?
Phẩm nhuộm làm từ hoa
Những bông thài lài nở
Sắc màu phai bạc mau

Ở Nhật Bản có truyền thống dùng hoa thài lài xanh làm phẩm nhuộm vải vóc, quần áo. Phẩm nhuộm này cho màu không bền, vải vóc quần áo bạc màu rất nhanh. Tình người ở bài tanka này được ví như phẩm nhuộm làm từ hoa thài lài xanh, không bền và dễ nhạt phai. Trong Cổ kim Hòa ca tập còn hai bài tanka nữa, cũng nói đến phẩm nhuộm làm từ hoa thài lài này và cũng được làm ẩn dụ cho tình yêu, tình người chóng thay đổi, nhạt phai. Dường như hoa thài lài xanh trở thành ẩn dụ hay điển tích cho tình người chóng phai nhạt.

Thài lài xanh

Cỏ trăng soi vàng

Nguyệt kiến thảo

Cây hoa này cũng thuộc chi Oenothera như cỏ trăng soi hồng. Tôi gọi là cỏ trăng soi vàng hay cỏ đón đêm vàng. Tên khoa học của cây là Oenothera biennis.  Cỏ trăng soi hồng được trồng lẫn mọc hoang dã, nhưng cỏ trăng soi vàng tôi chỉ thấy mọc hoang dã ở các bãi cỏ, không thấy ai trồng.

Đây là bài tanka trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 772, khuyết danh, qua bản dịch tiếng Anh của Donald Keene:

Although I am sure
That he will not be coming
In the evening light
When the locusts shrilly call
I go to the door and wait

Tôi dịch từ bản dịch tiếng Anh này, hiệu chỉnh đôi chút cho phù hợp với nguyên bản:

Anh sẽ chẳng đến đâu
Mặc dù em biết thế
Khi dế kêu rả rích
Trong màn đêm dần buông
Tựa cửa em vẫn chờ

Bài tanka này không viết về hoa trăng soi hay hoa đón đêm, nhưng lại gợi nhớ tới chúng. Người con gái trong bài tanka đang khắc khoải đón đêm xuống. Mặc dù biết chắc rằng chàng trai sẽ không đến nhưng người con gái vẫn tựa cửa đứng chờ. Tiếng dế càng rả rích, màn đêm càng buông sâu, người con gái càng khắc khoải. Hy vọng mong manh, thậm chí là vô vọng vẫn chờ. Lý trí biết là vô vọng, tình cảm vẫn không nỡ buông xa. Sự khác nhau giữa người con gái và hoa trăng soi ở chỗ bông hoa biết chắc chắn rằng đêm sẽ tới, cứ nở hết mình, đêm không thể không tới. Người con gái không có cái chắc chắn như vậy của hoa. Tựa cửa trong bóng đêm càng lúc càng dày, trong tiếng dế càng lúc càng não ruột, những điểm trang biết có uổng lòng. 

Nguyệt kiến thảo

Hoa dành dành

Dành dành

Hoa này có nhiều tên gọi khác nhau: dành dành, nhài Thái, ngọc bút. Tôi gọi là dành dành. Tên khoa học là Gardenia jasminoides. Tuy thuộc chi Gardenia, nhưng hoa lại có thêm chữ jasminoides nên rất dễ liên tưởng tới hoa nhài. Hoa thơm phảng phất như hoa nhài, không nồng nàn như kim ngân. Mỗi hoa có mùi hương khác nhau, nhưng làm thế nào miêu tả chính xác được mùi hương? Người Nhật và người Trung quốc đều gọi hoa này là hoa chi (kuchinashi) hay "chi tử". Hoa này có hai loại khác hẳn nhau: cách kép và cánh đơn.

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 1026, khuyết danh:

Miminashi no
yama no kuchinashi 
eteshi gana
omoi no iro no
shitazome ni sen

Bản dịch tiếng Anh trong quyển Kokinshu: A Collection of Poems Ancient and Modern

if only I could
secure blooms of the silent
gardenias that grow
upon Earless Mountain to
dye my robe with love's scarlet

Tôi dịch với trợ giúp của bản dịch tiếng Anh:

Trên núi Miminashi
Những bông dành dành nở
Giá được
Màu nhung nhớ thắm tươi
Nhuộm thành

Núi Miminashi ở vùng Nara nơi nổi tiếng có hoa dành dành. Cây dành dành dùng để nhuộm vải vóc. Tôi không rõ là dùng hoa hay dùng hạt dành dành để nhuộm. Theo bản dịch tiếng Anh "omo(h)i" có chứa từ "hi" chỉ màu đỏ tươi. Tiếng Nhật viết "omoi" là "tư-hi"(思ひ) chỉ nhung nhớ, nhớ thương. "Hi" còn được giải nghĩa là "phi"(緋) tức lụa đào, thứ lụa có màu đỏ thắm. Tôi nghĩ "nhớ nhung" ở đây phiếm chỉ màu đỏ thắm. Giá được những bông dành dành trên núi Miminashi để nhuộm màu đỏ thắm nhung nhớ. Màu đỏ được ẩn trong nỗi niềm nhung nhớ và cháy bỏng. Hay nỗi niềm nhung nhớ và cháy bỏng ẩn dấu trong tấm áo lụa đào đỏ thắm được nhuộm từ những bông hay hạt dành dành trên đỉnh Miminashi.
 
Dành dành

Tâm hồn Nhật



Bài tanka của Motoori Norinaga, một học giả người Nhật ở thế kỷ 18:

shikishima no
yamato-gokoro o
hito towaba
asahi ni niou
yamazakura hana

Bản dịch của tôi:

Trên các đảo Phù tang
Tâm hồn Nhật là gì
Nếu có người muốn hỏi?
Vầng mặt trời buổi sớm
Ngát anh đào núi non

Hoa xương bồ

Xương bồ vàng

Đây là hoa Iris. Nhưng tôi sẽ không gọi là hoa diên vĩ. Trong tâm tưởng của tôi hoa diên vĩ luôn có màu tím và là hoa trên cạn. Hoa Iris này mọc ở ven hồ ao. Tôi gọi là hoa xương bồ giống như người Nhật đặt tên cho chúng. Tên khoa học là Iris pseudacorus. Chúng mọc thành cụm và có hai màu vàng và trắng. Loại hoa này chỉ có ba cánh to bên ngoài và cánh nhỏ bên trong. Hoa xương bồ nở vào tháng 5, báo hiệu mùa hè đã sang.

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 469, khuyết danh
Hototogisu
naku ya satsuki no
ayamegusa
ayame mo siranu
koi mo suru kana

when nightingales sing
in the sweet purple iris
of the Fifth Month I
am unmindful of the warp
on which we weave love's pattern
Tôi dịch thành thơ như sau:

Chim quyên hót
Tháng năm
Hoa xương bồ
Bên khung cửi lơ đãng
Tình yêu ta dệt nên

Hototogisu là chim đỗ quyên hay chim cuốc (cuculus canorus). Bản tiếng Anh đã dịch thành chim họa mi là không chính xác. Vế đầu và vế sau của bản tanka liên kết với nhau bằng cụm âm tiết ayame. Hai đặc trưng cho đầu mùa hạ là chim quyên và hoa xương bồ. Và cũng chính ở trong thời gian này tình yêu dễ đâm chồi nảy nở, giống như câu phương ngôn "Tháng năm người thêm trẻ". Những buổi chiều đầu hè ở các nước ôn đới rất tuyệt diệu, chiều như mật ngọt và dịu êm, khoảng thời gian rất đẹp trong năm. Ở đây lại một lần nữa thấy rằng chim quyên đã không còn là hình ảnh cuốc kêu rỏ máu nữa.

Xương bồ trắng

Xương bồ trắng

Hồ qua thảo

Hồ qua thảo

Đây là hoa đồng cỏ nội. Hoa này li tí, đường kính chỉ độ vài mm, có màu xanh tím. Tên khoa học là Trigonotis peduncularis. Người Nhật gọi là hồ qua thảo. Hồ qua có nghĩa là dưa chuột. Thân cành cây này có mùi vị giống như cây dưa chuột nên có tên gọi như vậy. Tiếng Anh là cucumber herb. Tiếng Việt có thể gọi là cỏ dưa chuột hay văn hoa là hồ qua thảo.

Đồng cỏ tháng 4 thường thấy hoa này. Những chấm sáng xanh tím li ti trên một nền cỏ biếc. Ki no Tsurayuki có bài tanka sau trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 25:
wagaseko ga
koromo Farusame
Furu gotoni
nobe no midori zo
iro masarikeru



My friend
Spreads wide his cloak in a spring shower;
With every fall
The green fields are
More verdant than ever.
Tôi dịch từ bản dịch tiếng Anh:

Bạn tôi
Phanh áo dưới mưa xuân
Từng hạt rơi xuống
Đồng cỏ xanh
Tươi hơn bao giờ hết

Bài tanka (đoản ca) có cấu trúc xác định, gồm 31 âm tiết chia thành 5 câu: 5-7-5-7-7, gồm hai vế, vế đầu 5-7-5 và vế sau 7-7, liên kết bằng âm điệu hay bằng ngữ nghĩa. Thơ Nhật không có quy tắc về vần và thanh như thơ Việt Nam hay thơ Hán. Khi dịch sang các ngôn ngữ khác, số lượng âm tiết trong bài tanka thường bị bỏ qua, chỉ giữ lại cấu trúc 5 câu. Ở bài tanka trên, vế đầu là một người hứng mưa xuân, vế sau là đồng cỏ. Mưa xuân khiến cho màu sắc đồng cỏ càng xanh tươi cũng như những giọt mưa xuân rơi xuống cơ thể con người càng khiến con người tươi trẻ hơn. Con người và thiên nhiên dường như đã hòa quyện làm một, không có đối lập con người - đồng cỏ - mưa xuân.

Đồng cỏ tháng 4, tháng 5 thường đem cảm giác thanh bình tự nhiên. Chẳng biết có phải vì hoa đồng cỏ nội?


Photobucket

Đỗ quyên

Photobucket

Tôi từng hứa sẽ viết về đỗ quyên cánh đơn. Hoa đỗ quyên cánh đơn chỉ có 5 cánh. Cây hoa đỗ quyên này thường mọc thành bụi, cao độ hơn nửa mét. Khi nở cả bụi nở trông rất đẹp. Tôi chưa thấy ai trồng trong chậu. Đỗ quyên bắt đầu trổ bông khi anh đào nở rộ. Bây giờ đỗ quyên tím và đỗ quyên đỏ đang úa dần, còn đỗ quyên trắng vẫn đang khoe sắc. Tôi không biết đỗ quyên này có bao nhiêu màu. Giữa tím và hồng trông khá na ná nhau. Tôi có cảm giác ban đầu hoa tím, sau đó nở rộ chuyển sang hồng. Hoa đỏ và hoa trắng giữ nguyên màu sắc từ lúc nở đến lúc tàn.

Bài thơ này rút từ Cổ kim hòa ca tập của Nhật bản, bài số 495, khuyết danh:

Ký ức ùa về
Trên đỉnh Tokiwa
Đỗ quyên đá bừng nở
Tình yêu câm lặng cháy bỏng hơn
Trong âm thầm tôi giữ

Đây là bản dịch của tôi từ bản dịch tiếng Anh trong Kokinshu: A Collection of Poems Ancient and Modern do L. R. Rodd và M. C. Henkenius dịch:

memories return
when on evergreen mountains
wild azaleas bloom
unspoken love burns stronger
in the silence I must keep

Rất tiếc là tôi không dịch được từ nguyên bản tiếng Nhật. Bài thơ này nếu không biết xuất xứ khó có thể ngờ đấy lại là bài thơ về một mối tính đồng tính giữa một nhà sư và chú tiểu. Tất nhiên quan niệm về tình yêu đồng tính của Nhật Bản cổ xưa không giống như ngày nay. Hoa đỗ quyên trong bài thơ là hoa đỗ quyên đá (nham đỗ quyên), và về sau Kitamura Kigin đã lấy tên "Đỗ quyên đá" này để làm tên cho một tập thơ về đề tài đồng tính luyến ái. Núi Tokiwa không biết chắc chắn ở đâu, có thể ở Kyoto, theo chú thích trong bản tiếng Anh. "Toki wa" còn có nghĩa là "thời gian, khi", và bản dịch tiếng Anh dịch thành evergreen, mãi xanh, như thời gian bất tận, không có điểm đầu, không có điểm cuối như tình yêu của con người. Phải nhìn thấy hoa đỗ quyên nở mới cảm nhận được hết bài thơ này. Đỗ quyên khi nở cả bụi cây bừng lên rực rỡ như tình yêu cháy bỏng nhưng lại âm thầm.

Các nền văn hóa khác nhau đã dùng hoa đỗ quyên để hàm ý những thứ khác nhau. Việt Nam theo Trung Quốc nên liên tưởng đỗ quyên đến chim cuốc như nỗi lòng nhớ nước. Người Nhật lại thấy hoa đỗ quyên như một tình yêu cháy bỏng đầy hoài vọng âm thầm.

Photobucket

Photobucket