Bài mới

Trao đổi mới

Nỗi buồn ba trăm năm

Trong tiểu thuyết Ignorance, Milan Kundera có nhắc tới một khổ thơ của Jan Skacel: Skacel miêu tả nỗi buồn quanh ông, ông muốn cầm nỗi buồn đấy trong tay mang tới một nơi nào đó thật xa và lấy nó tự dựng một ngôi nhà; ông muốn tự giam mình trong ngôi nhà đó suốt ba trăm năm, suốt ba trăm năm không mở cửa, không mở cửa cho bất kỳ ai.

Nỗi buồn của Skacel được Kundera dẫn chiếu về nỗi buồn chính trị. Skacel mất vào ngày 7 tháng 11 năm 1989. Mười ngày sau sinh viên, học sinh ở Praha biểu tình, mở đầu cho một kết thúc chính trị. Ba trăm năm của một nỗi buồn. Một cảm nhận không được chính xác? Ba trăm năm, không phải là một đời người, nhiều đời người, là một quãng thời gian xa thắm, không xác định được, không tiên liệu được, cũng như "tam bách dư niên hậu" của Nguyễn Du. Ba trăm năm của hoài vọng và vô vọng.

Tôi không biết Jan Skacel. Đến khi đọc Kundera mới biết tên ông, biết bài thơ về ngôi nhà làm bằng một nỗi buồn (tôi luôn nghĩ là một nỗi buồn, không phải nỗi buồn cũng như nhiều nỗi buồn), và đóng cửa suốt ba trăm năm. Tôi không thể nào hình dung được, nếu Skacel sống thêm hai mươi năm nữa, ông có còn tiếp tục giam mình trong ngôi nhà đấy nữa không. Một ngôi nhà làm bằng một nỗi buồn giữa những hân hoan xung quanh? Nhưng ông ở trong ngôi nhà đấy, không mở cửa thì làm sao mà biết được điều gì đã xảy ra xung quanh.
Skacel đã không chờ được cái ngày vô vọng của ba trăm năm đến.

Bài thơ của Skacel giản dị hơn nhiều. Tầng chính trị của bài thơ đã được Kundera sơn phết. Sơn phết lên những lý do "mang tính chất hiện sinh", "không thể thổ lộ" và "chỉ có thể nín lặng". Bài thơ của Skacel như sau:

je tolik smutku lze ho zdvíhat
na břehu moře vystavět
si z něho dům a neotvírat
kambalám dveře tři sta let

Bài thơ này tôi không dịch được. Nhưng smutky là nỗi buồn,
moře là biển cả, dům là ngôi nhà, neotvírat là không mở, dveře là cửa, tři sta let là ba trăm năm. Những từ có gốc Slavic.



Núi thu

Photobucket

Bài haiku sau của Issa:

aki no yama hitotsu hitotsu ni yuube kana

Bản dịch của tôi:

Núi thu
Mỗi quả núi
Mỗi chiều buông

Chiều thu trên núi trong cùng một dãy núi không giống nhau. Dường như mỗi quả núi có một chiều thu riêng biệt. Cùng là một buổi chiều, cùng là một dãy núi, nhưng mỗi nơi có một mùa thu.

Photobucket

Photobucket


Quả gai lửa

Gai lửa

Hoa gai lửa nở vào cuối xuân và đến mùa thu kết quả. Nhìn hoa gai lửa không thôi thì không thể nào hiểu nổi tại sao cây lại có tên như thế. Nhưng khi thấy cây gai lửa kết quả thì sẽ hiểu ngay lập tức cái tên của nó. Cả cây là một bụi quả đỏ rực như lửa. Cây gai lửa này có tên khoa học là Pyracantha coccinea.

Bài haiku sau của Shiki:

Tori naite akai ko-no-mi wa koboshikeri

và bản dịch của tôi:

Tiếng chim hót
Chùm quả đỏ
Rớt xuống

Đọc bài haiku này không hiểu sao tôi toàn hình dung về truyền thuyết tiếng chim hót trong bụi cây gai, mặc dù tôi không biết Nhật Bản có truyền thuyết tương tự như vậy không. Con chim cất lên tiếng hót cuối cùng để lao mình vào những chiếc gai nhọn. Những quả gai lửa rớt xuống. Không, không phải những quả gai lửa rớt xuống, mà là chính những giọt máu của con chim bị gai đâm đang rớt xuống. Tiếng chim hót, những giọt máu đào trong hình dạng của quả gai lửa quyện vào nhau trong một truyền thuyết kỳ lạ.

Tất nhiên bài haiku của Shiki không nhất thiết phải có ý nghĩa như thế. Nhưng chẳng có lý do gì mà tôi lại không thể liên tưởng tới truyền thuyết lạ kỳ kia. Haiku luôn là những câu thơ mở, khiến ta có thể khám phá ra những vẻ đẹp bất tận, mới lạ như chưa từng bao giờ có.

Gai lửa


Biểu tình "ảo"

Tôi từng đề cập tới khả năng về biểu tình "ảo" khi suy nghĩ về vấn đề áp lực từ thế giới ảo. Một cuộc biểu tình "ảo" vừa xảy ra ở Indonesia với 300000 người tham gia trên mạng Facebook để phản đối cảnh sát bắt quan chức chống tham nhũng. Người ta đã gọi đây là "quyền lực nhân dân số" (digital people power). Như vậy biểu tình "ảo" không còn phải là một khái niệm mang tính lý thuyết hay tưởng tượng thuần túy nữa, nó đã là một hiện tượng thực. Biểu tình "ảo" sẽ được khuếch đại rất lớn nếu như có thêm sự hỗ trợ của truyền thông truyền thống như báo chí, truyền hình. Đây là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Từ biểu tình "ảo" đến cách mạng "ảo" sẽ không còn phải là một khoảng cách xa vời nữa, đặc biệt nếu đấy là khuynh hướng kiểu như cách mạng màu sắc. Tôi thường hay nghĩ tới đi trên sương đã phải nghĩ đến băng giá tới. Chợt nhớ tới câu thơ của Nguyễn Trãi: Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn / Pha lão tằng vân ngã diệc vân.



"Khuê tảo" đâu chỉ là văn chương

Nhân đọc bài trên Thể thao & Văn hóa về GS Bùi Duy Tân, trong đó có nhắc tới hai chữ "khuê tảo". Có lần tôi đã đề cập tới chuyện này và không nhớ rõ ai là người phát hiện chuyện này đầu tiên. Vì vẫn còn băn khoăn về người phát hiện, nên tôi thử Google tra. Số tôi rất may là tìm ra bài viết "Khuê tảo" đâu chỉ là văn chương của Nguyễn Đăng Na. Bài viết của Nguyễn Đăng Na rất hay và giúp tôi không những hiểu rõ chuyện này mà còn hiểu chính xác hai chữ "khuê tảo": văn thơ thư họa của vua làm. Để chắc chắn tôi đã kiểm tra lại Hán ngữ từ điển trên mạng và nghĩa đúng như Nguyễn Đăng Na đã viết.

Tôi copy lại bài viết của Nguyễn Đăng Na để làm tư liệu (chữ tảo thiếu bộ thảo)

"Khuê tảo" đâu chỉ là văn chương

NGUYỄN ĐĂNG NA

Hoàng Việt thi văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích được khắc in năm Ất Dậu, niên hiệu Minh Mệnh thứ sáu 1825. Trong Quyển Một có bài của Lê Thánh Tông mà nhóm Lê Quý Đôn ([1]) đã dịch với nhan đề Ta ngồi trong Chính điện, hồi tưởng xưa nay vua sáng, tôi lành và cơ nghiệp thịnh vượng của nước nhà ngày nay ngẫu thành bài thơ. Sáu cụ trong nhóm Lê Quý Đôn dịch gồm: Lê Thước - người Lạc Thiên, La Sơn, Hà Tĩnh, đỗ Cử nhân năm 1918 lúc 28 tuổi; Hà Văn Đại - người Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đỗ Phó bảng năm 1919 lúc 27 tuổi; Trịnh Đình Rư - người Định Công, Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Cử nhân năm 1915 lúc 19 tuổi; Vũ Đình Liên - người Hải Dương, sinh 1913, nhà thơ, nhà nghiên cứu, dịch thuật. Còn hai cụ nữa chúng tôi chưa rõ tiểu sử. Đó là Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu. Bài thơ Ngẫu thành nói trên của Lê Thánh Tông trong đó có hai chữ khuê tảo [奎? 澡?] được nhiều người quan tâm. Nguyên văn bài thơ như sau:

Cao Đế anh hùng cái thế danh,

Văn Hoàng dũng trí phủ doanh thành.

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo,

Võ Mục hung trung liệt giáp binh.

Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển,

Nhị Thân phụ tử bội ân vinh.

Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự,

Bát bách Cơ Chu lạc trị bình.

Người đầu tiên giải thích hai chữ khuê tảo trong câu "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" có lẽ chính là Nhóm LQĐ. Các cụ viết: "Khuê tảo: quê hay khuê là sao khuê, tảo là cỏ tảo, tượng trưng cho văn chương" (Hoàng Việt thi văn tuyển, Sđd, tr. 22). Nhưng rồi, người ta dần dần quên mất cách dịch của Nhóm LQĐ. 35 năm sau, PGS. Bùi Duy Tân trong báo Văn nghệ số 33 (ngày 14-8-1993) nhắc lại cách dịch "khuê tảo" của Nhóm LQĐ. PGS. Bùi Duy Tân khẳng định cách giải thích khuê tảo của Nhóm LQĐ là "Khuê tảo: văn chương" (Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập một, Nxb Giáo dục, 1999, tr. 97). Trên cơ sở đó, PGS. Bùi Duy Tân nhắc nhở ít nhất hai lần:

- "Khuê tảo: chỉ văn chương. Nhiều từ điển lớn của Trung Quốc cũng giải nghĩa Khuê tảo có một nghĩa là văn chương, là thơ văn" (Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập hai, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 238).

- "Văn chương: dịch từ Khuê tảo... Khuê tảo: chỉ văn chương. Nhiều từ điển lớn của Trung Quốc cũng giải nghĩa Khuê tảo có một nghĩa là văn chương, là thơ văn. Nhân đây xin đính chính..." (Hợp tuyển Văn học trung đại Việt Nam (Thế kỷ X-XIX), Tập một, Nxb Giáo dục, 2004, tr. 517).

Cuối cùng, PGS. Bùi Duy Tân khẳng định vai trò dịch của Nhóm LQĐ: "Các vị túc nho quá cố trong nhóm dịch chú Hoàng Việt thi văn tuyển (sđd): Lê Thước - Hà Văn Đại - Trịnh Đình Rư - Nguyễn Sĩ Lâm - Trần Lê Hữu đã dịch đúng cả nghĩa và thơ" (Hợp tuyển..., tr. 517. Riêng tên cụ Vũ Đình Liên không có. Phải chăng PGS. Bùi Duy Tân bỏ sót ?). Thế là, hai chữ khuê tảo sau 50 năm đã trở về đúng vị trí trong bản dịch của Nhóm LQĐ: "Khuê tảo: tượng trưng cho văn chương".

Tuy nhiên, có hai chữ rất quan trọng khi Nhóm LQĐ dịch mà PGS. Bùi Duy Tân lại quên mất. Đó là hai chữ: tượng trưng! Các cụ rất thận trọng, dịch từng chữ: "Khuê tảo: tượng trưng cho văn chương". Theo chúng tôi, tượng trưng cho văn chương khác với đối tượng trực tiếp về văn chương. Thế thì, cứ theo chỉ dẫn của PGS. Bùi Duy Tân về "Từ điển lớn của Trung Quốc" xem có tìm thấy hai chữ khuê tảo có nghĩa là văn chương không?

Trước hết là Từ nguyên (Thương vụ Ấn thư quán, in năm 1938. Từ điển này dài 1830 trang nhưng không có từ mục Khuê tảo, mà chỉ có từ mục Khuê (tr. 393) và từ mục Tảo (tr. 1305). Từ điển thứ hai: Từ hải, in lần thứ hai năm 1989 (xuất bản lần đầu 1979), Thượng Hải từ thư xuất bản xã, dài tới 2216 trang (chữ rất nhỏ, khổ to, mỗi trang chia làm ba cột), vẫn chẳng có mục từ Khuê tảo nào cả, chỉ có từ mục Khuê (tr. 647) riêng và từ mục Tảo riêng (tr. 618).

Vậy thì, tìm từ điển lớn hơn nữa xem sao? Nhưng may, chúng tôi bỗng nhớ lại lời chú giải hai chữ Khuê tảo do Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam dịch và chú giải, in năm 1961 trong Lịch triều hiến chương loại chí. Tổ phiên dịch gồm năm cụ là: Nguyễn Trọng Hân, Trịnh Đình Rư, Cao Huy Giu, Trương Văn Chinh, Nguyễn Mạnh Duân và cụ thứ sáu hiệu đính là Đào Duy Anh. Phần Văn tịch chí có dịch Bài tựa Ngự chế về Quỳnh uyển cửu ca. Câu ấy như sau: "Thổ hồng nghê chi khí, quang khuê tảo chi văn". Các cụ dịch: "Nhả khí rực rỡ như cầu vồng, rạng vẻ sáng tươi của khuê tảo" ([2]); rồi chú: "Khuê tảo: văn chương của vua làm". Câu chú giải này cực kì quan trọng về nghĩa của hai chữ khuê tảo. Nhưng buồn thay, hầu như mọi người đã quên mất ý nghĩa của hai chữ khuê tảo và quên béng luôn cả tên nhóm dịch giả. Chúng tôi tiếp tục truy tìm loại từ điển "đại" lớn hơn loại "từ điển lớn". Lại may lần thứ hai: Hán ngữ đại từ điển Trung Hoa, có hẳn mục từ Khuê tảo. Soạn giả viết rõ: "Khuê tảo: chỉ đế vương thi văn thư hoạ" ([3]); nghĩa là, khuê tảo: chỉ thơ, văn, thư, hoạ của đế vương. Té ra, 48 năm trước, Tổ phiên dịch Viện Sử học đã nói rõ ràng và chuẩn: "Khuê tảo" là văn chương của vua làm. Và trước đó 51 năm, Nhóm LQĐ cũng đã cảm nhận đúng về "khuê tảo": tượng trưng cho văn chương. Khi dịch từng chữ, các cụ bao giờ cũng thận trọng, không bao giờ nói đại khái, càng không bao giờ bịa đặt. Chúng ta chẳng nên bỏ rơi, bỏ quên từng chữ dịch của các cụ (trong Nhóm LQĐ hoặc Tổ phiên dịch Viện sử học VN), khiến người đọc hiểu chưa đầy đủ tinh thần bản dịch.

Vậy là, khuê tảo chỉ văn chương của vua làm. Điều này không phải ngẫu nhiên mà Lê Thánh Tông hồi tưởng xưa nay vua sáng, tôi lành và cơ nghiệp thịnh vượng của nước nhà khi nhận xét Nguyễn Trãi: "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" và cũng không phải ngẫu nhiên mà vua Lê Thánh Tông có lời chú về Ức Trai ngay trong bài thơ đó: "Thừa chỉ Quan phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, đậu khoa bảng từ đời Hồ. Khi Thánh Tổ mới mở cơ nghiệp, theo về nơi Lỗi Giang, bên trong thì trù tính phương lược, bên ngoài thì thảo văn thư chiêu dụ các thành, văn chương giúp nước, rất được tín nhiệm" ([4]). Chính vì thế, Nguyễn Trãi mới thay mặt Thái Tổ Cao Hoàng Đế thảo dụ Quân trung từ mệnh và tuyên bố Bình Ngô đại cáo. Vĩ đại thay Ức Trai!


Trung Kính, Hà Nội, ngày 15 tháng Giêng, năm 2009

N . Đ . N


[1] Hoàng Việt thi văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích, tập III, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958, tr. 21.


[2] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV, Nxb Sử học, 1961. tr. 75.


[3] Hán ngữ đại từ điển, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, Tập một, tr. 3284.


[4] Hoàng Việt thi văn tuyển, Sđd, tr. 22.


Ngân hạnh

Ngân hạnh

Đàn bướm vàng - ngân hạnh - đã lại bay về. Mùa thu, cùng với cây phong, ngân hạnh cho lá vàng rực rỡ. Có loại phong cho lá vàng, có loại phong cho lá đỏ, còn ngân hạnh chỉ có một loại, cho lá vàng tuyền. Những chiếc lá như là hoa. Tên khoa học của ngân hạnh là Ginkgo biloba.

Bài haiku sau của Suzuki Michihiko:

tonaru ki mo nakute icho no ochiba kana

Bản dịch của tôi:

Bên cạnh không cây nào
Ngân hạnh
Những chiếc lá rơi rơi

Tôi chợt nhớ tới câu thơ của Đỗ Phủ: Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ. Những chiếc lá rơi xuống xao xác như không có giới hạn. Lại nhớ tới câu thơ của Nguyễn Trãi: anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu. Người anh hùng ôm hận trong tiếng lá xao xác. Ở bài haiku trên, không có âm thanh của những chiếc lá rơi. Một cây ngân hạnh cô độc. Chỉ có những chiếc lá rơi. Điểm ẩn giấu ở đấy là màu vàng của những chiếc lá. Những cánh bướm vàng lượn quanh cây ngân hạnh nơi những con bướm khác mỏi cánh đang đậu khắp cành. Cánh bướm luôn nhẹ nhàng, mỹ lệ (bay bướm) và do vậy không có âm thanh xao xác của lá. Không phải là một bức tranh tĩnh, là một bức tranh động, nhưng lại tuyệt đối tĩnh lặng. Và rất mỹ lệ. Là một mình giữa mùa thu. 

Ngân hạnh

Ngân hạnh


Sắn dây

Sắn dây

Sắn dây là một trong bảy loại rau cỏ đặc trưng của mùa thu (thu thất thảo). Chữ Hán đọc là cát, người Nhật đọc là kuzu, do vậy mà tiếng Anh gọi là kudzu. Truyện Kiều có câu: Tuyết sương che chở cho thân cát đằng. Cát đằng chính là dây sắn. Tên khoa học của sắn dây là Pueraria lobata.

Issa có bài haiku sau:

waga kaki ya uki yo no kuzu no hana zakari

Bản dịch của tôi:

Tường rào nhà tôi
Thế giới phù du này
Sắn dây hoa thịnh nở

Chữ "cát" (sắn dây) đọc là kuzu. Cùng âm kuzu còn có chữ "tiết", có nghĩa là những thứ vụn vặt, bỏ đi, cặn bã. Ngay ở tường rào đã có thể thấy cái thế giới phù du này, những thứ bỏ đi vẫn rất thịnh, như dây sắn đang trổ hoa khắp cành. Thế giới phù du là một thế giới tạm bợ, vô thường. Nhưng chính trong cái vô thường của phù thế vẫn thường hằng những thứ cặn bã. Cặn bã là cái thường hằng của vô thường.


Sắn dây


Bài mới