Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label kokinshu. Show all posts
Showing posts with label kokinshu. Show all posts

Lá thu

Photobucket
Kaze fukeba
otsuru momijiba
mizu kiyomi
chiranu kage sae
soko ni mietsutsu

Oshikochi no Mitsune

Gió thổi
những chiếc lá phong rơi
nước trong veo
những chiếc lá chưa bay
tận đáy còn thấy chúng

Bài tanka này nằm trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 304. Một khung cảnh rất đặc trưng của mùa thu: những cây phong soi mình xuống nước. Những chiếc lá phong bị gió thổi rụng tản mát khắp mặt nước. Vì làn nước mùa thu quá trong, những chiếc lá còn trên cành phản chiếu xuống làn nước cứ như là chúng đã bị gió thổi rụng xuống tận đáy nước. Bóng lá dưới đáy nước là ảo, lá trên cành là thực. Thực và ảo lẫn vào nhau, không còn phân biệt được đâu là thực, đâu là ảo. Mùa thu là mùa của hồ đồ, nhìn đâu cũng tưởng là thực, thấy đâu cũng ngỡ là ảo. Một bức tranh đầy màu sắc hư thực. Không biết có trường phái hư thực trong hội họa không, nhưng mùa thu là một họa sĩ điêu luyện của hư thực. Đi giữa mùa thu, ta đang đi trong hư hay trong thực, một khoảnh khắc lấp lánh đầy màu sắc và chứa chan hư thực đến không ngờ.  

Photobucket

Thài lài xanh

Thài là xanh

Hoa này là hoa thài lài chính gốc, khác với hoa thài lài tím là tên ngoại suy. Tên khoa học của hoa là Commelina communis. Chi Commelina được gọi là chi thài lài. Tôi không biết "thài lài" có nghĩa gì. Cây hoa này trong tiếng Nhật được gọi là "lộ thảo" (tsuyukusa), có nghĩa là "cỏ sương", một cái tên khá hay. Hoa này cứ đến chiều là cụp mất. Hình dạng của hoa thài lài này cũng ngộ nghĩnh. Có hai cánh xanh lục ở phía trên,  và nhị hoa dài vươn ra phía dưới. Người Trung Quốc còn gọi cây hoa này là "áp chích thảo", có nghĩa là "cỏ chân vịt".

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 795, khuyết danh:

yo no naka no
hito no kokoro wa
hanazome no
utsuroi yasuki
iro ni zo arikeru

Bản dịch của tôi:

Ở trong cõi đời này
Tình người là sao vậy?
Phẩm nhuộm làm từ hoa
Những bông thài lài nở
Sắc màu phai bạc mau

Ở Nhật Bản có truyền thống dùng hoa thài lài xanh làm phẩm nhuộm vải vóc, quần áo. Phẩm nhuộm này cho màu không bền, vải vóc quần áo bạc màu rất nhanh. Tình người ở bài tanka này được ví như phẩm nhuộm làm từ hoa thài lài xanh, không bền và dễ nhạt phai. Trong Cổ kim Hòa ca tập còn hai bài tanka nữa, cũng nói đến phẩm nhuộm làm từ hoa thài lài này và cũng được làm ẩn dụ cho tình yêu, tình người chóng thay đổi, nhạt phai. Dường như hoa thài lài xanh trở thành ẩn dụ hay điển tích cho tình người chóng phai nhạt.

Thài lài xanh

Cỏ trăng soi vàng

Nguyệt kiến thảo

Cây hoa này cũng thuộc chi Oenothera như cỏ trăng soi hồng. Tôi gọi là cỏ trăng soi vàng hay cỏ đón đêm vàng. Tên khoa học của cây là Oenothera biennis.  Cỏ trăng soi hồng được trồng lẫn mọc hoang dã, nhưng cỏ trăng soi vàng tôi chỉ thấy mọc hoang dã ở các bãi cỏ, không thấy ai trồng.

Đây là bài tanka trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 772, khuyết danh, qua bản dịch tiếng Anh của Donald Keene:

Although I am sure
That he will not be coming
In the evening light
When the locusts shrilly call
I go to the door and wait

Tôi dịch từ bản dịch tiếng Anh này, hiệu chỉnh đôi chút cho phù hợp với nguyên bản:

Anh sẽ chẳng đến đâu
Mặc dù em biết thế
Khi dế kêu rả rích
Trong màn đêm dần buông
Tựa cửa em vẫn chờ

Bài tanka này không viết về hoa trăng soi hay hoa đón đêm, nhưng lại gợi nhớ tới chúng. Người con gái trong bài tanka đang khắc khoải đón đêm xuống. Mặc dù biết chắc rằng chàng trai sẽ không đến nhưng người con gái vẫn tựa cửa đứng chờ. Tiếng dế càng rả rích, màn đêm càng buông sâu, người con gái càng khắc khoải. Hy vọng mong manh, thậm chí là vô vọng vẫn chờ. Lý trí biết là vô vọng, tình cảm vẫn không nỡ buông xa. Sự khác nhau giữa người con gái và hoa trăng soi ở chỗ bông hoa biết chắc chắn rằng đêm sẽ tới, cứ nở hết mình, đêm không thể không tới. Người con gái không có cái chắc chắn như vậy của hoa. Tựa cửa trong bóng đêm càng lúc càng dày, trong tiếng dế càng lúc càng não ruột, những điểm trang biết có uổng lòng. 

Nguyệt kiến thảo

Hoa dành dành

Dành dành

Hoa này có nhiều tên gọi khác nhau: dành dành, nhài Thái, ngọc bút. Tôi gọi là dành dành. Tên khoa học là Gardenia jasminoides. Tuy thuộc chi Gardenia, nhưng hoa lại có thêm chữ jasminoides nên rất dễ liên tưởng tới hoa nhài. Hoa thơm phảng phất như hoa nhài, không nồng nàn như kim ngân. Mỗi hoa có mùi hương khác nhau, nhưng làm thế nào miêu tả chính xác được mùi hương? Người Nhật và người Trung quốc đều gọi hoa này là hoa chi (kuchinashi) hay "chi tử". Hoa này có hai loại khác hẳn nhau: cách kép và cánh đơn.

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 1026, khuyết danh:

Miminashi no
yama no kuchinashi 
eteshi gana
omoi no iro no
shitazome ni sen

Bản dịch tiếng Anh trong quyển Kokinshu: A Collection of Poems Ancient and Modern

if only I could
secure blooms of the silent
gardenias that grow
upon Earless Mountain to
dye my robe with love's scarlet

Tôi dịch với trợ giúp của bản dịch tiếng Anh:

Trên núi Miminashi
Những bông dành dành nở
Giá được
Màu nhung nhớ thắm tươi
Nhuộm thành

Núi Miminashi ở vùng Nara nơi nổi tiếng có hoa dành dành. Cây dành dành dùng để nhuộm vải vóc. Tôi không rõ là dùng hoa hay dùng hạt dành dành để nhuộm. Theo bản dịch tiếng Anh "omo(h)i" có chứa từ "hi" chỉ màu đỏ tươi. Tiếng Nhật viết "omoi" là "tư-hi"(思ひ) chỉ nhung nhớ, nhớ thương. "Hi" còn được giải nghĩa là "phi"(緋) tức lụa đào, thứ lụa có màu đỏ thắm. Tôi nghĩ "nhớ nhung" ở đây phiếm chỉ màu đỏ thắm. Giá được những bông dành dành trên núi Miminashi để nhuộm màu đỏ thắm nhung nhớ. Màu đỏ được ẩn trong nỗi niềm nhung nhớ và cháy bỏng. Hay nỗi niềm nhung nhớ và cháy bỏng ẩn dấu trong tấm áo lụa đào đỏ thắm được nhuộm từ những bông hay hạt dành dành trên đỉnh Miminashi.
 
Dành dành

Hoa xương bồ

Xương bồ vàng

Đây là hoa Iris. Nhưng tôi sẽ không gọi là hoa diên vĩ. Trong tâm tưởng của tôi hoa diên vĩ luôn có màu tím và là hoa trên cạn. Hoa Iris này mọc ở ven hồ ao. Tôi gọi là hoa xương bồ giống như người Nhật đặt tên cho chúng. Tên khoa học là Iris pseudacorus. Chúng mọc thành cụm và có hai màu vàng và trắng. Loại hoa này chỉ có ba cánh to bên ngoài và cánh nhỏ bên trong. Hoa xương bồ nở vào tháng 5, báo hiệu mùa hè đã sang.

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 469, khuyết danh
Hototogisu
naku ya satsuki no
ayamegusa
ayame mo siranu
koi mo suru kana

when nightingales sing
in the sweet purple iris
of the Fifth Month I
am unmindful of the warp
on which we weave love's pattern
Tôi dịch thành thơ như sau:

Chim quyên hót
Tháng năm
Hoa xương bồ
Bên khung cửi lơ đãng
Tình yêu ta dệt nên

Hototogisu là chim đỗ quyên hay chim cuốc (cuculus canorus). Bản tiếng Anh đã dịch thành chim họa mi là không chính xác. Vế đầu và vế sau của bản tanka liên kết với nhau bằng cụm âm tiết ayame. Hai đặc trưng cho đầu mùa hạ là chim quyên và hoa xương bồ. Và cũng chính ở trong thời gian này tình yêu dễ đâm chồi nảy nở, giống như câu phương ngôn "Tháng năm người thêm trẻ". Những buổi chiều đầu hè ở các nước ôn đới rất tuyệt diệu, chiều như mật ngọt và dịu êm, khoảng thời gian rất đẹp trong năm. Ở đây lại một lần nữa thấy rằng chim quyên đã không còn là hình ảnh cuốc kêu rỏ máu nữa.

Xương bồ trắng

Xương bồ trắng

Hồ qua thảo

Hồ qua thảo

Đây là hoa đồng cỏ nội. Hoa này li tí, đường kính chỉ độ vài mm, có màu xanh tím. Tên khoa học là Trigonotis peduncularis. Người Nhật gọi là hồ qua thảo. Hồ qua có nghĩa là dưa chuột. Thân cành cây này có mùi vị giống như cây dưa chuột nên có tên gọi như vậy. Tiếng Anh là cucumber herb. Tiếng Việt có thể gọi là cỏ dưa chuột hay văn hoa là hồ qua thảo.

Đồng cỏ tháng 4 thường thấy hoa này. Những chấm sáng xanh tím li ti trên một nền cỏ biếc. Ki no Tsurayuki có bài tanka sau trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 25:
wagaseko ga
koromo Farusame
Furu gotoni
nobe no midori zo
iro masarikeru



My friend
Spreads wide his cloak in a spring shower;
With every fall
The green fields are
More verdant than ever.
Tôi dịch từ bản dịch tiếng Anh:

Bạn tôi
Phanh áo dưới mưa xuân
Từng hạt rơi xuống
Đồng cỏ xanh
Tươi hơn bao giờ hết

Bài tanka (đoản ca) có cấu trúc xác định, gồm 31 âm tiết chia thành 5 câu: 5-7-5-7-7, gồm hai vế, vế đầu 5-7-5 và vế sau 7-7, liên kết bằng âm điệu hay bằng ngữ nghĩa. Thơ Nhật không có quy tắc về vần và thanh như thơ Việt Nam hay thơ Hán. Khi dịch sang các ngôn ngữ khác, số lượng âm tiết trong bài tanka thường bị bỏ qua, chỉ giữ lại cấu trúc 5 câu. Ở bài tanka trên, vế đầu là một người hứng mưa xuân, vế sau là đồng cỏ. Mưa xuân khiến cho màu sắc đồng cỏ càng xanh tươi cũng như những giọt mưa xuân rơi xuống cơ thể con người càng khiến con người tươi trẻ hơn. Con người và thiên nhiên dường như đã hòa quyện làm một, không có đối lập con người - đồng cỏ - mưa xuân.

Đồng cỏ tháng 4, tháng 5 thường đem cảm giác thanh bình tự nhiên. Chẳng biết có phải vì hoa đồng cỏ nội?


Photobucket

Đỗ quyên

Photobucket

Tôi từng hứa sẽ viết về đỗ quyên cánh đơn. Hoa đỗ quyên cánh đơn chỉ có 5 cánh. Cây hoa đỗ quyên này thường mọc thành bụi, cao độ hơn nửa mét. Khi nở cả bụi nở trông rất đẹp. Tôi chưa thấy ai trồng trong chậu. Đỗ quyên bắt đầu trổ bông khi anh đào nở rộ. Bây giờ đỗ quyên tím và đỗ quyên đỏ đang úa dần, còn đỗ quyên trắng vẫn đang khoe sắc. Tôi không biết đỗ quyên này có bao nhiêu màu. Giữa tím và hồng trông khá na ná nhau. Tôi có cảm giác ban đầu hoa tím, sau đó nở rộ chuyển sang hồng. Hoa đỏ và hoa trắng giữ nguyên màu sắc từ lúc nở đến lúc tàn.

Bài thơ này rút từ Cổ kim hòa ca tập của Nhật bản, bài số 495, khuyết danh:

Ký ức ùa về
Trên đỉnh Tokiwa
Đỗ quyên đá bừng nở
Tình yêu câm lặng cháy bỏng hơn
Trong âm thầm tôi giữ

Đây là bản dịch của tôi từ bản dịch tiếng Anh trong Kokinshu: A Collection of Poems Ancient and Modern do L. R. Rodd và M. C. Henkenius dịch:

memories return
when on evergreen mountains
wild azaleas bloom
unspoken love burns stronger
in the silence I must keep

Rất tiếc là tôi không dịch được từ nguyên bản tiếng Nhật. Bài thơ này nếu không biết xuất xứ khó có thể ngờ đấy lại là bài thơ về một mối tính đồng tính giữa một nhà sư và chú tiểu. Tất nhiên quan niệm về tình yêu đồng tính của Nhật Bản cổ xưa không giống như ngày nay. Hoa đỗ quyên trong bài thơ là hoa đỗ quyên đá (nham đỗ quyên), và về sau Kitamura Kigin đã lấy tên "Đỗ quyên đá" này để làm tên cho một tập thơ về đề tài đồng tính luyến ái. Núi Tokiwa không biết chắc chắn ở đâu, có thể ở Kyoto, theo chú thích trong bản tiếng Anh. "Toki wa" còn có nghĩa là "thời gian, khi", và bản dịch tiếng Anh dịch thành evergreen, mãi xanh, như thời gian bất tận, không có điểm đầu, không có điểm cuối như tình yêu của con người. Phải nhìn thấy hoa đỗ quyên nở mới cảm nhận được hết bài thơ này. Đỗ quyên khi nở cả bụi cây bừng lên rực rỡ như tình yêu cháy bỏng nhưng lại âm thầm.

Các nền văn hóa khác nhau đã dùng hoa đỗ quyên để hàm ý những thứ khác nhau. Việt Nam theo Trung Quốc nên liên tưởng đỗ quyên đến chim cuốc như nỗi lòng nhớ nước. Người Nhật lại thấy hoa đỗ quyên như một tình yêu cháy bỏng đầy hoài vọng âm thầm.

Photobucket

Photobucket