Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label tap. Show all posts
Showing posts with label tap. Show all posts

Ta còn em, Hà Nội phố

Bài này tôi viết cũng đã khá lâu rồi, có lẽ đã 15 năm có lẻ. Tôi viết bài này khi đọc trường ca Hà Nội phố của Phan Vũ. Bản trường ca lúc đó do anh HTB chép và gửi cho mọi người. Đó là lần đầu tiên tôi đọc bản trường ca Hà Nội phố của Phan Vũ, tuy tôi đã từng được nghe bài hát Em ơi, Hà Nội phố trước đó. Tôi có cảm xúc rất kỳ lạ khi đọc Hà Nội phố, đặc biệt dòng chữ "Gửi những người Hà Nội đi xa" và "Tháng Chạp 1972". Sau khi đọc xong bản trường ca, tôi viết ngay lập tức bài viết này. Tôi không rõ nó thuộc thể loại gì nhưng là một kiểu fiction. Giờ chợt thấy và post lại.

Ta còn em, Hà Nội phố

1. Phan Vũ viết trường ca "Hà Nội - phố" vào tháng Chạp năm 1972.

2. Nhà tôi hai lần đi sơ tán. Lần thứ nhất - Johnson leo thang ra miền Bắc, lần thứ hai - Nixon muốn đưa miền Bắc về "thời kỳ đồ đá". Lần thứ nhất - tôi chào đời trong căn nhà lá giữa đồi sim. Mẹ tôi kể: "Mẹ đợi chờ bom đạn ngớt, định về Hà Nội để sinh con. Nhưng con lại muốn ra đời sớm. Các anh, chị con đều sinh ở Hà Nội". Tôi không biết buồn hay vui khi mình có đến hai, ba quê hương. Mẹ tôi bảo: "Bù lại con có nơi chôn nhau, cắt rốn. Ở Hà Nội người ta đem "nhau" thiêu thành tro". Anh tôi lạnh lùng nói: "Nhưng đó là đất người dưng". Tôi òa khóc.

Lần thứ hai - tôi đi sơ tán cùng bà và các anh chị. Bố, mẹ tôi phải ở Hà Nội làm việc. Bố tôi kể: "12 ngày đêm khủng khiếp. Không đủ quan tài để chôn, phải lấy bao nilon bọc. Có đứa bé như con phải quấn năm, sáu vành khăn tang". Mẹ tôi bảo: "Mùi xác người chết, mùi trầm, mùi hoa sữa, hoa lan quyện vào nhau không tan. Đi qua Khâm Thiên, mẹ thấy lờm lợm".

Vườn nhà tôi có cây hoàng lan, hoa nhiều và hương rất thơm, nhưng bố tôi cho chặt vì mẹ tôi ngửi thấy nhức đầu.

3.
"Em ơi! Hà Nội - phố!
Ta còn em mùi hoàng lan
Còn em hoa sữa..."

Phan Vũ đã nắm bắt được những nét rất đặc trưng của đường phố Hà Nội. Không phải chỉ những mảng mầu của phố Phái. Còn có cả hương, cả âm thanh và những rung động mỏng manh như sợi tơ nhện giăng giữa mùa đông. Có gì vương vấn trong từng chữ của bản trường ca.

4. Ngày đầu tiên tôi đi học. Cô giáo dạy chúng tôi hai chữ O, A. Cuối giờ cô giáo bảo chúng tôi so sánh chữ O với đồ vật để dễ nhớ. Chúng tôi nhao nhao, đứa nói chữ O tròn như quả trứng gà, đứa bảo như mặt trăng, vành nón... Thôi thì đủ kiểu. Thằng bạn cùng phố của tôi ngồi im lặng. Khi cô giáo hỏi, nó lí nhí trả lời: "Thưa cô, chữ O như miệng hố bom". Tôi thấy cô giáo tôi khóc. Hôm đó chúng tôi tan học sớm.

Bố tôi hỏi: "Ngày đầu con được học những gì?". Tôi kể chuyện ở lớp. Bố tôi nói: "Vườn nhà cô giáo cũng có một hố bom".

5.
"Nhà thờ Cửa Bắc,
Chiều tan lễ,
Chuông nguyện còn mãi ngân nga..."

Mười hai ngày đêm (18-29/12/1972) B52. Tiếng chuông, tiếng kinh cầu hòa cùng tiếng bom rơi, đạn nổ. Chưa bao giờ và ở đâu trên trái đất này có bản hòa ca nào dâng Chúa như vậy.

6. Vườn nhà thằng bạn tôi có một hố bom bên cạnh cây hoàng lan. Không biết tại sao cây hoàng lan vẫn sống. Hố bom đó cũng là nấm mộ tự nhiên chôn bố mẹ thằng bạn tôi. Nó sống côi cút với bà nội. Mỗi mùa đông, nó rủ tôi sang vườn nhà nó nhặt hoa hoàng lan. Có tối đi ngang qua nhà nó, thấy ngoài vườn lốm đốm hương bên cạnh hố bom. Tôi sợ và không dám nhặt hoa lan nữa.

Thằng bạn tôi không chịu đi lễ nhà thờ. Bà nó bảo: "Không có đức tin làm sao sống được cháu?" Nó bảo tôi: "Bố mẹ tao bị bom vùi trước đêm Chúa ra đời. Cần gì phải ăn bánh thánh, uống rượu thánh? Máu, thịt đó..." Tôi nhìn thấy cây thánh giá trên nóc nhà thờ. Những chiếc đinh như đang rỏ máu ròng ròng. Không biết chuông đang nguyện hồn ai.

7. Bản trường ca của Phan Vũ man mác buồn. Buồn nhưng không bi lụy thương tâm. Tôi thấy thi ca miền Bắc rất hợp với lời nhận xét của Chu Hy từ ngàn năm trước: "Vui mà không dâm, buồn mà không bi thương". Tôi nghĩ đó như thơ Nhị Nam trong "Kinh Thi". Đặc biệt hầu như bài thơ nào cũng khát vọng lạc quan với tương lai. Điểm rất khác biệt với thơ miền Nam.

"Em ơi! Hà Nội - phố!
Ta còn em cánh tay trần
Mở cửa
Mùa Xuân trong khung:
Giỏ phong lan
Điệp vàng rực rỡ
Từng cây khô óng ả sợi tơ hồng
Đường phố dài
Chi chít chồi sinh
Màu ước vọng in hình
Xanh nõn lá..."

Tôi nghĩ, Phan Vũ viết bản trường ca này sau khi B52 rải thảm Hà Nội. Ông viết tặng những người xa Hà Nội. Hà Nội vẫn còn đó, vẫn những nét như xưa. Cả một niềm tin yêu và hy vọng ở Hà Nội.

8. Khi tôi vào Thanh Xuân học ngoại ngữ chuẩn bị đi du học thì thằng bạn tôi bắt đầu đi đạp xích lô. Hôm trước khi rời Việt Nam, nó chở tôi dạo khắp phố phường Hà Nội. Nó bảo: "Để mày nhớ hồn Hà Nội". Đêm đó không có mùi hoa sữa, cũng chẳng có hương hoàng lan. Tôi rời Việt Nam một ngày cuối hạ.

9. Có nhiều người viết về "màu thời gian". Đoàn Phú Tứ thì tím ngát. Còn Phan Vũ lại màu xanh. Ít ai viết Hà Nội với màu tím. Có lẽ màu tím là đặc quyền của Huế.

"Em ơi! Hà Nội - phố!
Ta còn em một màu xanh thời gian..."
Hà Nội với màu xanh thời gian. Một nét hoài cảm lạc quan.

10. Một lần nghỉ hè tôi về thăm gia đình sau bao tháng năm xa cách. Nhà thằng bạn tôi đã bán. Nó mua một căn nhà bên Gia Lâm và thành ông chủ đại lý mì. Khu đất nhà nó giờ thành một khách sạn với sàn nhảy ngay trên hố bom ngày trước. Tôi hỏi nó còn nhớ hố bom không? Nó bảo: "Tao không thể sống bằng quá khứ".

Tôi nhìn những đôi chân lướt trên sàn nhảy. Buồn. Không còn ai nhớ tới những hố bom nữa. Sao tôi cứ ôm mãi trong lòng những hố bom sâu thẳm nham nhở của ngày nào.

11.
 "Ta còn em,
Hà Nội - phố, em ơi!
Ta còn em,
Em ơi! Hà Nội, phố..." ?

Mưa

Định đi ngủ thì trời lại mưa. Mưa ào ạt. Tiếng mưa rơi xuống mái tôn càng tăng âm tợn. Chợt nhớ câu thơ của Cao Bá Quát: "Bạo vũ khuynh thiên lậu / Phi đào táp địa lai", để rồi chẳng thể không nhớ "Xích nhật hành hà đạo/ Thương sinh thán kỷ hồi". Giữa đêm khuya mênh mông này vầng trời hồng làm sao có thể mong đợi được? Đôi khi thấy thơ của Cao Bá Quát như hoài vọng của một kiếp nhân sinh, biết là không thay đổi được, nhưng vẫn cố làm. "Thiếu niên tật tẩu chung hà sự? Úy lộ man man trước lữ hoài".

Năm trước tôi có viết về mưa. Năm nay lại gặp trận mưa to. Copy & paste lại một đoạn:

"Người đời hay làm thơ về mưa xuân, mưa thu, mưa đông. Mưa mùa hạ tôi ít đọc thấy. Mưa cũng là một tâm trạng của con người. Nguyễn Trãi nghe mưa suốt đêm thấy “Tiêu tao kinh khách chẩm / Điểm trích sổ tàn canh” (Tiếng lộp độp làm kinh gối khách / Giọt rơi đếm canh tàn). Cao Bá Quát lại thấy “Bạo vũ khuynh thiên lậu / Phi đào táp địa lai” (Mưa dữ nghiên trời đổ nước xuống / Sóng tung tóe tràn mặt đất). Tôi không biết có bao giờ Nguyễn Trãi hạ bút viết “bạo vũ” hay Cao Bá Quát viết về mưa “tiêu tao” không. Nhưng tôi tin rằng họ không thể viết như vậy. Chẳng phải vì Nguyễn Trãi chẳng bao giờ thấy cơn mưa nghiêng trời đổ nước hay Cao Bá Quát chưa bao giờ nghe tiếng mưa như giọt nước đồng hồ. Họ là những con người với những bản chất khác nhau. Mà những bản chất đó lại rất chân thật ở thơ. Đọc thơ ta thấy những con người, tuy thơ không nói về người mà nói về những trận mưa.

Lý Nghĩa Sơn có viết “Hà đương cộng tiễn tây song chúc / Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì”. Không biết bao giờ lại cùng nhau gạt ngọn nến bên song tây để kể cho nhau nghe về đêm mưa ở Ba Sơn. Nghĩa Sơn không viết “đông song”, chữ “đông” cũng hợp luật thơ, ông viết một “tây song”. Một mái tây trong một đêm mưa với một ngọn nến hai người. Nhất định phải là mái tây. Cái âm hưởng của mái tây nghe man mác buồn buồn. Ở một nền văn hóa khác rất khó cảm được mái tây cho dù có đọc Vương Thực Phủ đi nữa. Mưa ở Ba Sơn. Mưa ở đó thê nào? Tôi không biết. Tôi chẳng đang nghe tiếng mưa ở Hà thành hay sao?"

Post lại bài viết cũ

Nhân bác Lưu Văn Say nhắc tới bài Xuân vọng của Đỗ Phủ, tôi nhớ mang máng hình như tôi đã từng thử dịch bài thơ này, thử Google xem, không tìm thấy, nhưng lại thấy mấy bài tôi viết cách đây hơn 2 năm. Giờ đăng lại đọc chơi. Bài thơ về "bạo vũ" của Cao Bá Quát kết bằng câu thơ "Xích nhật hành hà đạo / Thương sinh thán kỷ hồi", một phẫn nộ tột đỉnh của thi ca.


Tôi không biết tại sao tôi lại chợt nhớ tới mấy câu thơ trong bài thơ Xuân vọng của Đỗ Phủ. Nhiều khi những ý tứ chợt đến mà không thể rạch ròi được tại sao, vì sao, từ đâu. Mấy câu thơ này tuy toàn chữ Hán nhưng lại dễ hiểu đối với người Việt, có thể hiểu mà không cần dịch

Quốc phá sơn hà tại
Thành xuân thảo mộc thâm
Cảm thời hoa tiễn lệ
Hận biệt điểu kinh tâm

Người đời thường cho rằng Đỗ Phủ làm bài thơ này vào mùa xuân. Tôi lại nghĩ rằng mùa xuân trong bài thơ đã hết, đã là quá vãng, chỉ còn lại trong mộng tưởng. Tôi vẫn nghĩ "vọng" là một hành động gì đó không thể đạt được. "Xuân vọng" là mơ ước ngắm nhìn một mùa xuân, một hoài vọng với cái vừa qua, vừa mất, vừa mới đây thôi mà giờ đã là dĩ vãng. Thấy những thứ trôi tuột trên tay mà không biết phải làm sao có thể giữ lại và cũng không biết có nên cố giữ lại hay không, hay cứ thuận theo lẽ mà để trôi đi. Cứ phân vân như vậy, cứ rối bời như vậy, như quốc gia ngổn ngang trăm mối, tan hoang trong một sớm một chiều mà sông núi vô cảm trơ trơ giữa trời với đất, như cây cỏ um tùm khi xuân đang trôi tuột qua một mảnh thành, như những bông hoa linh cảm ứa lệ thời vừa mất, như chim muông xao xác nỗi biệt ly. Tôi nghĩ về câu thơ như vậy. Tôi không rõ tại sao lại nghĩ như thế. Mấy câu thơ này chắc đã được bình giảng nhẵn thín trong các trang sách rồi. Nhưng tôi cảm thấy như vừa mới đọc đâu đây, như hiện tại khó nắm bắt và khó hiểu này.


Suốt tối trời mưa. Tôi không chắc có phải là trận mưa đầu mùa không. Mưa đầu hạ. Trận mưa không phải là cơn mưa rào ào ạt, cũng không phải là trận mưa phùn lay lắt. Có chút gì đó lai rai, có chút gì đó dồn dập. Tôi không biết gọi là mưa gì.

Thư phòng của Lỗ Tấn có tên "Khổ vũ", Tô Đông Pha có đề tên đình "Hỷ vũ". Một cơn mưa khổ, một trận mưa vui. Trận mưa tối nay là vui hay khổ? Căn phòng của tôi không có tên, mà nếu như có đặt tên thì chắc gì đã có chữ "vũ".

Người đời hay làm thơ về mưa xuân, mưa thu, mưa đông. Mưa mùa hạ tôi ít đọc thấy. Mưa cũng là một tâm trạng của con người. Nguyễn Trãi nghe mưa suốt đêm thấy "Tiêu tao kinh khách chẩm / Điểm trích sổ tàn canh" (Tiếng lộp độp làm kinh gối khách / Giọt rơi đếm canh tàn). Cao Bá Quát lại thấy "Bạo vũ khuynh thiên lậu / Phi đào táp địa lai" (Mưa dữ nghiêng trời đổ nước xuống / Sóng tung tóe tràn mặt đất). Tôi không biết có bao giờ Nguyễn Trãi hạ bút viết "bạo vũ" hay Cao Bá Quát viết về mưa "tiêu tao" không. Nhưng tôi tin rằng họ không thể viết như vậy. Chẳng phải vì Nguyễn Trãi chẳng bao giờ thấy cơn mưa nghiêng trời đổ nước hay Cao Bá Quát chưa bao giờ nghe tiếng mưa như giọt nước đồng hồ. Họ là những con người với những bản chất khác nhau. Mà những bản chất đó lại rất chân thật ở thơ. Đọc thơ ta thấy những con người, tuy thơ không nói về người mà nói về những trận mưa.

Lý Nghĩa Sơn có viết "Hà đương cộng tiễn tây song chúc / Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì". Không biết bao giờ lại cùng nhau gạt ngọn nến bên song tây để kể cho nhau nghe về đêm mưa ở Ba Sơn. Nghĩa Sơn không viết về "đông song", chữ "đông" cũng hợp luật thơ, ông viết một "tây song". Một mái tây trong một đêm mưa với một ngọn nến hai người. Nhất định phải là mái tây. Cái âm hưởng của mái tây nghe man mác buồn buồn. Ở một nền văn hóa khác rất khó cảm được mái tây cho dù có đọc Vương Thực Phủ đi nữa. Mưa ở Ba Sơn. Mưa ở đó thế nào? Tôi không biết. Tôi chẳng đang nghe tiếng mưa ở Hà thành hay sao?