Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label Oku no hosomichi. Show all posts
Showing posts with label Oku no hosomichi. Show all posts

Haiku

一家に 遊女もねたり 萩と月
Hitotsu ya ni yujo mo netari hagi to tsuki
Basho

Dưới một mái nhà
những du nữ cũng ngủ
hoa hagi và trăng

Bài haiku này nằm trong tập du ký Lối mòn miền Oku của Basho. Yujo (du nữ) thường được hiểu như là kỹ nữ, gái điếm, song có lẽ ở đây có những khác biệt tinh tế. Yuku không lấy mại dâm như là một hoạt động chính, mặc dù lang chạ không phải là không có. Trong tập ký Basho có viết rằng ông gặp hai du nữ ở một quán trọ trên đường đi tới đền Ise, song họ muốn quay về. Buổi sáng, khi Basho lên đường, hai du nữ năn nỉ để được đi cùng với Basho, song Basho đã từ chối. Mặc dù đã từ chối nhưng Basho cảm thấy áy náy và ông viết bài haiku này. Bài haiku này đẹp vì nó như một bức tranh. Cực kỳ tĩnh.

Hương tuyết

Photobucket
ありがたや雪をかおらす南谷
Arigata ya yuki o kaorasu minamidani
Basho

Ơn lành!
tuyết ngát hương
Nam cốc

Bài haiku nằm trong tập du ký Lối mòn miền Oku của Basho. Paustovsky từng viết rằng làm sao có thể miêu tả được cái yên lặng của đồng nội hay mùi sông nước hiển hiện đâu đây. Tôi cũng không biết làm sao có thể chụp được mùi hương của tuyết. Những gì tuyệt diệu nhất của thiên nhiên thật khó truyền đạt làm sao!

Ngân hà

荒海や佐渡に横たふ天の河
Ara umi ya  Sado ni yokotau  Ama-no-gawa
Basho

Biển hoang
vắt ngang đảo Sado
sông Ngân

Bài haiku này nằm trong tập ký Lối mòn miền Oku của Basho. Trong tập ký Basho không viết gì về bài haiku này. Ông chỉ nói rằng ông bị ốm khi tới Echigo. Đảo Sado là nơi từng để lưu đày những người bị tội nặng, chỉ sau tội tử hình. Đảo Sado cũng là nơi có mỏ vàng lớn của Nhật Bản. Bài haiku để lại ấn tượng rất mạnh về một dải Ngân hà vắt ngang biển qua đảo Sado. Kawabata trong tiểu thuyết Xứ tuyết từng viết: "Dải Ngân Hà... Anh cũng ngước nhìn lên. Shimamura có cảm tưởng như đang bơi lội trong đó, ánh sáng xanh của nó như tỏa gần đến độ anh cảm thấy như bị hút lên trên ấy. Phải chăng cái ấn tượng trước cảnh mênh mông lộng lẫy, nhà thơ Basho đã tả nó như một cánh cung hòa bình bắc qua đại dương sôi sục? Bởi, ngay trên đầu anh, dải Ngân Hà nghiêng cái vòng cung xuống, ôm lấy trái đất". Kawabata đã lấy cảm hứng về dải Ngân hà từ chính bài haiku này của Basho. Kết thúc Xứ tuyết cũng là hình ảnh của dải Ngân hà: "Anh bước lên để đứng cho vững và khi anh ngã đầu về phía sau, dải Ngân hà tuôn chảy lên anh trong cái thứ tiếng thét gầm giận dữ"  (Các đoạn trích trong Xứ tuyết lấy từ bản dịch của Ngô Văn Phú và Vũ Đình Bình). Có thể nói Kawabata đã cảm nhận được chiều sâu của bài haiku của Basho. Khi đọc tiểu thuyết nước ngoài chúng ta luôn phải vượt qua những rào cản văn hóa. Trong Xứ tuyết, Kawabata viết về bài haiku của Basho, nhưng ông không dẫn ra bài haiku. Kawabata không cần dẫn ra bài haiku của Basho, bởi vì khi nói về Basho và dải Ngân hà bắc qua biển hoang, người Nhật có lẽ ai cũng biết là đang nói tới bài haiku trong Lối mòn miền Oku. Nhưng khi đọc Xứ tuyết, liệu có bao nhiêu người trong chúng ta cảm nhận được nguồn gốc từ bài haiku của Basho? Đó là nỗi buồn sâu thẳm của sự đọc, như dải Ngân hà tĩnh lặng tuôn chảy trên biển hoang đang cuộn trào sôi sục.  

Haiku trong Lối mòn miền Oku (6-10)

Bài 1-5

6. Kasane to wa yaenadeshiko no na narubeshi

Kasane cũng là
tên hoa cẩm chướng kép
hẳn là thế thôi


Kasane là tên một cô bé chạy theo con ngựa do Basho mượn của một người nông dân để đi qua cánh đồng cỏ. Basho cảm thấy tên cô bé rất đẹp. Kasane có nghĩa là kép. Bài haiku này được cho là do Sora, người đồng hành với Basho trong chuyến đi tới miền Oku, làm. Sora đã ví tên cô bé như hoa cẩm chướng cánh kép. Thực ra hoa cẩm chướng cánh kép không có (loại cẩm chướng này khác với loại cẩm chướng thông thường trong tiếng Việt). Bài haiku như một cảm nhận nhạy cảm của nhà thơ. Sao ở nơi thôn dã lại có một cái tên con gái đẹp như thế, không phải thế chứ, như hoa cẩm chướng cánh kép, có lẽ rất đẹp, nhưng mà có thật đâu.

7. natsu-yama ni ashida o ogamu kadode kana

Hạ sơn
bái lạy đôi guốc gỗ
lên đường


Hạ sơn có nghĩa là núi mùa hè, để chỉ các ngọn núi đang ở trong mùa hè ở Kurobane. Basho làm bài haiku này khi tới chùa Quang Minh (Komyo-ji). Trong chùa có đôi guốc gỗ của En no Gyoja, người lập ra ngôi chùa và môn phái Tu nghiệm (Shugen) ở đấy. Ở bài haiku này Basho và Sora không bái lễ tượng phật, mà lại bái lễ đôi guốc gỗ của Gyoja, như một ý nguyện sẽ bước theo những bước chân của Gyoja. Tôi chợt nhớ tới câu thơ của thiền sư Quảng Nghiêm "Nam nhi tự hữu xung thiên chí / Hưu hướng Như Lai hành xứ hành", làm trai tự có chí xông lên trời, đừng có bước theo những bước chân của Như Lai. Basho không đi tu, ông đang đi tới miền Oku, miền Bắc thẳm sâu, một chuyến du hành, như cuộc sống cũng vốn là một chuyến du hành.

8. tateyoko no
goshaku ni taranu
kusa no iori
musubu mo kuyashi
ame nakariseba

Cao rộng
chưa đầy năm thước
am cỏ
hối tiếc đã kết nên
trong mưa trú làm sao


Bài thơ này là một bài tanka của hòa thượng Butcho, người tu ở chùa Vân ngạn (Ungan-ji). Vân ngạn là bến mây, một cái tên rất đẹp, vừa như là nơi đỗ lại của mây, vừa như là một bến bờ tu hành cần phải sang. Ở đấy có một am cỏ bé nhỏ của hòa thượng. Butcho viết bài tanka này về cái am của ông.

9. kitsutsuki mo io wa yaburazu natsu kodachi

Ngay cả chim gõ kiến
không gõ chiếc am này
góc rừng hạ


Basho viết bài haiku này và treo trên cột gỗ nơi có chiếc am của hòa thượng Butcho. Ông gọi bài haiku là một "tức hứng", một cảm hứng chợt đến. Nơi đây rất tịch mịch, ngay cả tiếng gõ kiến cũng không nghe thấy. Tiếng chim gõ kiến gõ vào thân cây như tiếng gõ mõ. Nhưng ở am này, từ lâu rồi, tiếng gõ mõ đã không còn. Basho từng gặp Butcho và có lẽ Butcho là người đã hướng dẫn ông về thiền. Basho giờ tới đây, cảnh vật còn lại, nhưng người xưa không thấy, như tiếng gõ của chim gõ kiến cũng không còn nơi đây. Bài haiku là một cảm xúc ẩn giấu, chìm sâu trong cảnh vật và con người.

10. no o yoko ni uma hikimuke yo hototogisu

Băng qua đồng
dắt ngựa đi
tiếng cuốc kêu


Basho sáng tác bài haiku này khi người nông dân dắt ngựa cho ông xin ông làm cho một bài haiku. Yêu cầu của người nông phu đã khiến Basho thích thú ngạc nhiên. Những con người thôn dã như vậy cũng muốn thưởng thức haiku. Haiku cũng dung dị, bình thường như cánh đồng, dắt ngựa và tiếng cuốc kêu. Những viên gạch dựng nên bài haiku luôn ở sẵn quanh ta, chỉ có việc sắp đặt chúng trong một trật tự nghệ thuật. Nếu như mỗi lần dắt ngựa băng qua đồng và lắng nghe tiếng cuốc kêu thì đấy đã là một bài thơ, không cần phải sáng tác hay viết ra.


Haiku trong Lối mòn miền Oku

Lối mòn miền Oku (Oku no hosomichi) là một tập du ký của Basho. Oku là tên miền đất ở phía Bắc nước Nhật, bao gồm vùng Mutsu và Dewa ngày nay, đọc theo âm Hán Việt là Áo [châu]. "Áo" là sâu xa. Vì nghĩa này mà một số bản dịch tiếng Anh đã dịch tên tập sách thành Narrow Road to the Deep North. Hosomichi là tế đạo, tức là đường đi nhỏ. Trong tập du ký này, ngoài những tản văn du ký, Basho còn ghi lại các bài haiku ông sáng tác trên đường đi. Tập sách đã được Vĩnh Sính dịch ra tiếng Việt với nhan đề Lối lên miền Oku. Vĩnh Sính dịch các bài haiku thành một câu lục bát (có thể đọc trên thi viện). Tiếng Anh có một số bản dịch khác nhau (có thể xem ở đây). Tôi thử dịch các bài haiku trong tập du ký này như cách tôi hiểu và cảm thụ chúng.

1. kusa no to mo sumikawaru yo zo hina no ie

Nhà tranh
Thay đổi chủ
Nhà bày tế nhân hình


Bài haiku này ở trong phần tựa của tập sách. Trước khi lên đường, Basho bán căn nhà của mình và chuyển đến ở với Sampu, một đệ tử của ông. Ông viết bài haiku này, một vế trong một bản renga có tám vế [nhưng nay đã thất truyền], và treo nó lên cột nhà. Hina-matsuri là ngày lễ ở Nhật Bản, vào mùng 3 tháng 3, được gọi là ngày lễ con gái. Ngày lễ này người ta bày các hình nhân, kiểu như búp bê, trên bàn tế lễ, gọi là "sồ đàn" (hina-dan).

Căn nhà tranh và các chủ nhân có thể thay đổi của nó là thế giới trần tục. Đàn tế nhân hình là thế giới thần linh. Chuyến du hành là một thay đổi. Nhưng sự thay đổi này cũng chẳng là một điều gì đó khác biệt, bởi vì trời đất cũng chỉ là quán trọ cho muôn vật mà thôi. Ý này được Basho viết ngay ở dòng đầu tiên, dẫn ý của Lý Bạch trong Xuân dạ yến đào lý viên tự: "Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ. Quang âm giả, bách đại chi quá khách", có nghĩa là: Ôi, trời đất là quán trọ của vạn vật. Ánh sáng và bóng tối là khách qua đường của trăm đời.

2. yuku haru ya tori naki uo no me wa namida

Mùa xuân ra đi
Chim nỉ non
Cá - mắt ngấn lệ


Bài haiku này là bài thơ khởi hành. Basho khởi hành đúng vào lúc mùa xuân sắp hết. Tiếng chim hót, mắt cá như ứa lệ, dường như là để tiễn biệt mùa xuân, mà cũng như là cảnh tiễn biệt nhà thơ. Bài haiku như hàm ý tới câu thơ của Đào Uyên Minh trong bài Quy điền viên cư: "Ki điểu luyến cựu lâm / Trì ngư tư cố uyên", chim trọ không dứt được rừng cũ, cá ao nhớ vực xưa. Chim, cá như đang lưu luyến mùa xuân, như cái tình cố cựu, như con người đang cất bước đi vào một chuyến du hành, tới miền bắc thẳm sâu.

3. ara touto aoba wakaba no hi no hikari

Ôi, tươi tắn
Những chiếc lá xanh, lá non
Trong ánh nắng


Bài haiku này Basho làm khi tới Nikko, đọc theo âm Hán Việt là Nhật quang, tức là ánh sáng mặt trời. Hi no hikari cũng là nhật [chi] quang. Lá xanh là chữ mùa [quý ngữ] hè, lá non là chữ mùa xuân. Xuân hạ giao nhau.

4. sori sutete kurokami yama ni koromogae

Xuống tóc
Hắc phát sơn
Đổi áo mặc


Bài haiku này không phải của Basho. Bài thơ do Sora, người đi theo Basho trong chuyến hành trình viết. Hắc phát sơn, có nghĩa là núi tóc đen, tức là Nam thể sơn (Nantai-san) ngày nay. Tôi có ảnh chụp ngọn núi này ở đây, nhưng tiếc là chưa leo được tới đỉnh. Bài haiku này là một sự liên tưởng. Núi Nantai vào mùa thu, hạ có đỉnh màu đen, do vậy mà có tên Hắc phát (kurokami). Đông xuân đỉnh núi bị tuyết phủ, trắng xóa. Nhà thơ nhìn đỉnh núi trắng xóa tưởng như một người cắt bỏ tóc, xuống tóc quy y. Sute là chữ "xả" của nhà Phật rất thâm sâu. Thời tiết chuyển sang mùa hè, và áo mặc cũng thay đổi.

5. shibaraku wa taki ni komoru ya ge no hajime

Chốc lát
Lồng thác nước
Chớm hè


Bài haiku này Basho làm ở Nikko. Thác nước này được Basho gọi là Urami (Lý kiến), và ngày nay vẫn mang tên như vậy. Urami có nghĩa là nhìn từ bên trong, bởi vì phía sau ngọn thác có chỗ lõm vào, có thể vào sau ngọn thác và ẩn mình trong đấy. Đấy cũng chính là ý của bài haiku. Thác nước như một cái lồng, và trong chốt lát ở trong đấy như một nghi lễ đón chào mùa hạ tới. Hay là thác nước mời gọi mùa hè tới.

Bài 6-10