Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label phongtuc. Show all posts
Showing posts with label phongtuc. Show all posts

Mũ miện


Photobucket
Mũ miện trong bộ phim Lý Công Uẩn

Ông Phạm Hoàng Quân khi nhận xét về mũ miện trong bộ phim Lý Công Uẩn đã phán rằng: "Triều đình Trung Hoa không khi nào chịu cho vua một nước “đàn em” mặc vương phục và đội mũ y hệt vua của họ, vì với họ, mũ mão của hoàng đế là để thể hiện uy quyền của “thiên tử”. Vua nước ta có muốn sử dụng theo cũng phải chế lại". Tôi phải gọi đây là thứ logic Phạm Hoàng Quân. Bởi vì nếu vua nước ta muốn xưng "đế" một cõi thì lại càng phải sử dụng thứ mũ của "thiên tử". Song liệu có phải chỉ riêng nước Nam ta mới có thứ mũ miện của Trung Quốc? Các quốc gia đồng văn khác như Triều Tiên, Nhật Bản thì sao? Vua nước họ có sử dụng thứ mũ của "thiên tử" không? Rất hay với Google tôi dễ dàng tìm được thứ mũ miện của Hàn Quốc và Nhật Bản. Thậm chí Hàn Quốc vẫn dựng phim mà trong đó vua của họ đội chính thứ mũ của "thiên tử". Tôi không biết người Hàn có ai có thứ logic Phạm Hoàng Quân để phê phán phim của họ hay không.

Photobucket
Mũ miện trong một bức vẽ vua Triều Tiên

Photobucket
Mũ miện trong bộ phim Han Myung Hoe

Photobucket
Mũ miện trong một bức tranh Nhật Bản

Tư cách viết báo

Hôm nay tôi đọc bài báo trên tờ Pháp luật TPHCM về bộ phim Lý Công Uẩn. Điều tôi kinh nhất ở bài báo này khi trích dẫn Lịch triều hiến chương loại chí đã lờ tịt đi một chi tiết quan trọng, liên quan mật thiết tới nội dung bài báo. Lịch triều hiến chương loại chí viết: "Lê Ngọa Triều, năm Ứng Thiên thứ 13 [1006] đổi phẩm phục của các quan văn võ, đều theo như lối nhà Tống". Đây là chi tiết quan trọng mà bài báo đã lờ đi. Bài báo còn viết rằng: "phải thấy rằng vào thời Tiền Lê - Lý Công Uẩn, áo xống của người triều đình chưa thể thêu thùa lộng lẫy như thế", nhưng lại quên mất rằng chính Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế". Chắc chỉ có báo Pháp luật TPHCM mới có thể nghĩ ra áo long cổn là áo không thêu thùa (!)

Quan phục ngày xưa may bằng vải vóc gì? Rất hay là Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: "Tháng 2 [1040, triều Lý Thái Tông], vua đã dạy cung nữ dệt được gấm vóc. Tháng ấy xuống chiếu phát hết gấm vóc của nước Tống ở trong kho ra để may áo ban cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào bằng gấm, từ cửu phẩm trở lên thì áo bào bằng vóc, để tỏ là vua không dùng gấm vóc của nước Tống nữa". Đoạn chép trong Toàn thư đủ thể hiện, ít nhất đến thời Lý Thái Tông, vua và quan lại Việt Nam dùng vải Tàu hay vải Ta để may quần áo. 

Tôi nghĩ về tư cách viết báo. Liệu có thể có thứ tư cách viết báo lờ tịt hay che giấu những chứng cứ hay luận điểm bất lợi cho bài báo mình viết hay không?

Song thực sự thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên với tờ Pháp luật TPHCM. Nếu nhớ lại sẽ thấy tờ báo này từng tâng ông Ngô Đức Thọ với vụ cáo buộc ông Nguyễn Đình Hương "đạo văn", rồi lại vụ lùm xùm với báo Đời sống và Pháp luật. Cả hai vụ này đều thấy tuyên bố trên báo chí sẽ đưa vụ việc ra tòa. Cho đến nay tôi chẳng nghe thấy gì nữa. Không rõ là đã đưa ra tòa chưa. Trong khi đấy với vụ đạo văn của Nguyễn Ngọc Thơ với bằng chứng rõ ràng thì tờ báo này lại có ý bênh vực. Do vậy, báo Pháp luật TPHCM có đăng những bài viết chỉ có một nửa sự thật hay lờ tịt đi hay che giấu những chứng cứ hay luận điểm bất lợi thì cũng chẳng có gì đáng phải ngạc nhiên. Đó là loại báo như vậy.

Trang phục quan lại triều Nguyễn

Photobucket

Bức ảnh trên đây chụp quan lại triều Nguyễn ở thế kỷ 19. Có thể nhận thấy về cơ bản trang phục của quan lại triều Nguyễn giống như của nhà Minh Trung Quốc (so với hai bức ảnh ở dưới). Điểm khác biệt chỉ là các chi tiết nhỏ như cổ áo trong, họa tiết trang trí và có thể là màu sắc. Nhà Nguyễn không sử dụng trang phục của nhà Thanh cùng thời, mà lại sử dụng trang phục của nhà Minh có phần hơi cổ. Có thể nghĩ trang phục quan lại thời Lê - Nguyễn sao chép trang phục triều Minh. Câu thơ "Y quan Đường chế độ" là có thể tin được cho thời Lý - Trần. Phải thấy rằng những người làm bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long đã rất cố gắng trong thiết kế trang phục. Chỉ cần xem một đoạn giới thiệu tôi đã thấy cố gắng của họ trong những chi tiết Việt, tuy những chi tiết này nhỏ. Điều thật đáng kinh là có những người có thể nói thẳng rằng chẳng biết gì về trang phục Lý - Trần cũng như trang phục của Trung Quốc ở các thời kỳ lịch sử nhưng lại phán "lai Tàu" này nọ, và thậm chí còn đề nghị cấm chiếu phim. Họ là loại người gì vậy? Phải thấy rằng một mặc cảm dòng chính đang ngự trị trong xã hội Việt Nam, nhất là trong những chuyện có liên quan tới Trung Quốc.

Photobucket

Photobucket

Trang phục nho sinh của người Việt

Trang phục nho sinh của người Việt về cơ bản không khác gì của Trung Quốc. Bức ảnh dưới đây chụp người Việt ở thế kỷ 19. Thực ra cũng không có gì đáng phải ngạc nhiên, bởi vì  trong suốt lịch sử trung-cận đại, Trung Quốc vẫn được coi là hình mẫu chuẩn để Việt Nam noi theo.

Photobucket

Photobucket

Trang phục của người Việt trong mắt người Nhật

Tôi tìm trên mạng được hai bức vẽ người Việt của Nhật Bản. Bức dưới đây trong tập Vạn quốc nhân vật đồ, năm 1645:

Photobucket

Còn bức dưới đây trong tập Thế giới nhân vật đồ quyển, năm 1714:

Photobucket

Trang phục trong hai bức vẽ này trông khá thú vị và e rằng sẽ có người cho rằng chúng "lai Tàu". Điều có thể nhận thấy là cổ áo đàn ông đã thay đổi từ cổ tròn của thời Trần sang cổ tạo bởi nẹp vạt áo. Tuy nhiên chân đất thì vẫn như xưa. Quốc hồn quốc túy của Việt Nam là chân đất và nhai trầu. Cứ khai thác hai đặc điểm này là không sợ lai với bất kỳ nước nào.

Trang phục thời Lý Trần như thế nào?


Photobucket

Bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long đang bị phê phán là bộ phim lai Tàu. Đặc điểm lai Tàu, theo những lời phê bình, chủ yếu thuộc về vấn đề trang phục. Vậy câu hỏi đặt ra là: trang phục của người Việt thời Lý-Trần như thế nào?

Về mặt cơ bản rất khó xác định chính xác trang phục thời Lý-Trần. Bài thơ Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục, được cho là của Hồ Quý Ly, có câu: "Y quan Đường chế độ / Lễ nhạc Hán quân thần". Bài thơ này cho thấy, về mặt cơ bản, trang phục mũ áo quan lại thời Lý-Trần giống như thời nhà Đường của Trung Quốc. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, có dẫn lại đoạn chép về cách ăn mặc của người Việt thời kỳ nhà Trần trong Sứ Giao châu thi tập của Trần Cương Trung, một viên quan nhà Nguyên sang sứ nước ta:

"Thời nhà Trần, người trong nước đều cạo đầu cho nên trong Sứ Giao Châu thi tập của Trần Cương Trung nhà Nguyên chua rằng: "Con trai đầu trọc, người nào có quan chức thì chùm đầu bằng khăn xanh, nhân đân đều như sư cả." Tục cắt tóc này đến Hoàng Phúc nhà Minh mới cấm, nay dân ở Kiên Lao và Trà Lũ huyện Giao Thủy vẫn còn giữ tục ấy.

Tập Sứ Giao Châu nói: "Dân đều đi chân không, gián hoặc có người đi giày da, khi đến cung điện thì rút giày ra. Trong lúc đón tiếp ở ngoài đô ấp hàng trăm người mặc áo bào cầm hốt, đều quỳ, da chân họ rất dày trèo núi như bay, chông gai cũng không sợ. Khăn dùng màu xanh thẫm do tơ lụa chế ra. Khi đội khăn thì dùng giây sắt cài lại đằng trước cao hai thước mà gập xuồng đến cổ, lấy dải buộc thắt lại đằng sau, trên đỉnh có cài cái đinh bằng sắt. Người có quan chức thì thêm một mảnh dải vào dây sắt này. Lúc ở nhà để đầu trần, gặp có khách mới đội khăn, nếu đi ra ngoài thì có một người mang khăn đi theo, duy có quốc vương búi tóc, dùng lụa là phủ lấy búi tóc trông xa như luân cân của nhà đạo sĩ. Người trong nước đều mặc lụa thâm, áo hoa, quần mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là. Đàn bà cũng mặc áo thâm nhưng màu trắng ở trong rộng hơn để nền cổ áo rộng bốn tấc, họ cho thế là khác với đàn ông, các sắc xanh, hồng, vàng, tía tuyệt nhiên không có.

Họ chạy nhảy rất nhanh, đi lại như gió một nmàu đen thẫm như muôn vết quạ đen, đàn bà cắt tóc để lại ba tấc tết ở trên đỉnh đầu sợi tóc rồi búi chặt lại và cài bằng trâm, ở đằng sau gáy không có tóc cũng không xoa dầu xoa sáp gì cả. Những thứ vòng đeo nhà giàu dùng vòng đồi mồi, còn các người khác dùng xương hoặc sừng mà thôi không có một tí vàng bạc nào cả, nhân dân đề vẽ mình làm thành hình móc cao khuất khúc trông như hình lư đồng, đỉnh đồng thời cổ, có người xăm chữ vào bụng."

Đoạn miêu tả áo mặc trong Trần Cương Trung thi tập có hơi khác chút ít so với bản dịch của Kiến văn tiểu lục ở trên: "... giai y hắc,tạo sam, tứ cư,bàn lĩnh dĩ la vi chi" (bản Tứ khố toàn thư thiếu mất một chữ trước chữ "giai y hắc"), có nghĩa là: đều mặc áo sắc đen, áo trong thâm, bốn vạt, cổ tròn khâu bằng là (là là một thứ lụa).

Bức vẽ ở trên thể hiện lối ăn mặc của người Giao Chỉ tôi lấy trong bộ Tam tài đồ hội của Vương Kỳ, người đời Minh soạn. Như vậy dù không cụ thể, chi tiết, cũng có thể hình dung đại khái được trang phục thời Lý-Trần như thế nào. Về cơ bản, đàn ông cạo đầu, xăm mình, đội khăn. Riêng vua chúa thì búi tóc, và dùng lụa phủ búi tóc. Áo mặc có cổ tròn, thường màu sẫm. Các màu xanh, hồng, vàng, tía mà màu áo của vương hầu, dân chúng không được dùng. Theo bức vẽ của Tam tài đồ hội có thể thấy áo bào có cổ tròn, bốn vạt, tay áo ống hẹp. Đây là đặc điểm khác trang phục của Trung Quốc thời kỳ Đường-Tống.

Tôi chưa xem bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long, nên thật khó nhận xét. Nhưng căn cứ vào đoạn giới thiệu bộ phim trên Youtube, tôi thấy đoàn làm phim đã rất cố gắng thể hiện trang phục thời Lý-Trần. Cổ áo tròn, tóc búi là đặc điểm trang phục thời Lý-Trần. Đấy là những đặc điểm tinh tế mà có lẽ ít người nhận thấy. Tôi thấy bà Nguyễn Thị Tình nói: "Dựa trên các tiêu chí như khoa học, dân tộc và đại chúng, tôi đã cố gắng hết sức để trang phục của phim  thực sự là VN”, là có cơ sở. Tôi đồ rằng, những người phê phán trang phục trong bộ phim lại chính là những người không biết trang phục của Trung Quốc trong lịch sử như thế nào cũng như trang phục của người Việt thời Lý-Trần giống khác với Trung Quốc ra sao. Phê phán thì dễ, nhưng trước khi phê phán hãy chỉ ra trang phục thời Lý-Trần ra sao, hơn là cứ phán rằng "lai Tàu", nhưng tựu trung lại mù tịt chẳng biết Tàu thế nào, Ta ra sao.

Tôi nghĩ phim lịch sử có nhiều vấn đề, nhưng chẳng có lý do nào có thể cấm tính sáng tạo và thể hiện của các nhà làm phim, cho dù có giống Tàu cỡ nào đi nữa, bởi vì dù có giống Tàu thì đấy cũng là cách nhận thức và hiểu biết của các nhà làm phim tạo ra những điểm nhìn tham chiếu, để các bộ phim sau có thể nhận ra các nhược điểm của những người đi trước để khắc phục và hoàn thiện tốt hơn. Tuy nhiên tôi thấy cũng phải lo ngại vấn đề tạo ra những "lỗ trắng" trong phim lịch sử, tức là những vấn đề lịch sử đã trở thành chính thống hay chẳng có gì mà phải xét lại, nhưng khi làm phim lại lờ đi hay chỉ điểm lướt qua, mặc dù nó là đặc điểm quan trọng của thời kỳ mà bộ phim phản ánh, chẳng hạn chuyện Lê Hoàn phá Tống.

Đây là đoạn giới thiệu bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long


Ấn đền Trần đủ nét

Báo Tiền phong có bài đăng lại từ TTXVN khẳng định chữ "cương" trong "Tích phúc vô cương" là chữ "cương" chuẩn, có chữ "thổ". Các ấn bản không nhìn thấy chữ "thổ" là do bị két mực. Đáng tiếc là bài báo không có ảnh chụp để mọi thứ rõ ràng. Câu chuyện về ấn đền Trần đến đây đã đến hồi kết. Quy kết của báo Tiền phong rất nặng nề mà chẳng thấy báo xin lỗi gì cả.Tôi vẫn không biết là căn cứ vào đâu mà có thể nghi ấn đền Trần làm từ phông vi tính?


Đoạn kết cho câu chuyện ấn đền Trần

Câu chuyện bắt đầu từ bài viết trên báo Tiền Phong nghi ngờ ấn đền Trần là giả. Tôi đã có loạt bài viết về chuyện này. Danh sách các bài viết tôi để ở cuối bài, theo thứ tự thời gian. Kết luận của tôi là bài viết trên báo Tiền phong không có một cơ sở nào để khẳng định ấn đền Trần là giả. Các chữ khắc nổi trên ấn đền Trần, "Trần miếu tự điển",  là chữ Tống thể, đặc trưng cho thể loại khắc gỗ in ấn ở Việt Nam, phổ biến từ khoảng đầu thế kỷ 20 trở về trước. Các chữ khắc chìm trên ấn đền Trần là các chữ Hán chính tông, đọc là "Tích phúc vô cương". Ấn đền Trần không có bất cứ một sai sót nào về mặt văn phạm, ngữ nghĩa, hình thể của các chữ trên ấn.

Bài viết trên báo Tiền phong là một quy kết nặng nề, nhất là đối với Ban quản lý đền Trần nói riêng và người dân Nam Định nói chung, bởi vì nó không khác nào là một thể hiện cáo buộc rằng Ban quản lý đền Trần nói riêng và người dân Nam Định nói chung là một bọn lường gạt, bịp bợm, làm ấn giả để thu lợi từ nỗi nhẹ dạ cả tin của người dân Việt Nam trong tín ngưỡng dân gian. Tôi không phải là người Nam Định mà còn cảm thấy như vậy, thì không biết người dân Nam Định có cảm nhận như thế nào. Tôi thấy chuyện này giống như có một cô gái xinh đẹp, đang được nhiều người chiêm ngưỡng, thì bỗng ở đâu nhảy ra một kẻ hô hoán lên rằng đấy là con đĩ. Từ câu chuyện này tôi thấy có mấy vấn đề như sau:

Vấn đề thứ nhất: truyền thông đại chúng không phải là nơi để công bố các phát hiện, tìm tòi mang tính chuyên môn sâu. Vấn đề này đã có lần tôi đề cập tới nhân chuyện về An Nam đồ chí của ông Ngô Đức Thọ. Lý do rất đơn giản: ban biên tập các báo không có khả năng cũng như chuyên môn để có thể phản biện lại các bài viết có tính chuyên môn sâu. Nói trắng ra thì Ban biên tập báo Tiền phong chỉ thuộc loại "văn như hũ nút, chữ như mù" nên không thể phân biệt được đúng sai trong chuyện ấn đền Trần này. Chỉ cần một sai sót hay nhầm lẫn là có thể để lại những hậu quả nặng nề. Những công bố mang tính chuyên môn sâu cần phải công bố ở các tạp chí chuyên ngành, nơi có những chuyên gia có kiến thức phản biện. Chỉ sau khi đã công bố ở tạp chí chuyên ngành, các thông tin của bài viết mới có thể công bố trên truyền thông đại chúng. Là một người không được đào tạo về Hán Nôm mà tôi còn có thể phát hiện ra được những sai lầm trong bài viết trên báo Tiền phong, thì không lẽ các chuyên gia về Hán Nôm ở các viện nghiên cứu lại là thứ "toi cơm" không thể phản biện lại được những "phát kiến" tầm thường như vậy hay sao?

Vấn đề thứ hai: tính chuyên nghiệp của giới học thuật. Một giới học thuật chuyên nghiệp không bao giờ coi truyền thông đại chúng là nơi để công bố các nghiên cứu học thuật của mình. Công bố học thuật trên truyền thông đại chúng chỉ thể hiện một lề lối nghiên cứu nghiệp dư, thiếu tính học thuật và không nghiêm túc. Những nghiên cứu, phát hiện, tìm tòi mang tính học thuật cần phải trải qua các khâu phản biện và trao đổi học thuật.

Vấn đề thứ ba: hiệu ứng từ bài viết. Không cần có kiến thức Hán Nôm, đọc bài viết trên báo Tiền phong cũng có thể nhận ra những bất ổn trong logic, lập luận và chứng cớ. Chẳng hạn như bài báo cho rằng chữ trên ấn giống phông vi tính mà không đưa ra những lập luận hay chứng cớ. Vậy mà vẫn có những người không thể nhận ra. Tôi lấy ví dụ bài viết trên báo Lao động "Quan lớn lại yếu" của Lý Sinh Sự. Tôi có thể khẳng định rằng ông Lý Sinh Sự đọc bài viết trên báo Tiền phong nhưng không hiểu gì, bởi vì trong bài viết của ông có đoạn: "Ấn cổ ở đâu không biết, vì căn cứ vào các bản ấn được bán hiện nay thì các chữ khắc trên ấn là chữ chìm, chứ không phải chữ khắc nổi như ấn cổ." Đọc tiếng Việt ngày nay còn chưa thủng, thì những thứ Hán Nôm làm sao có thể nhận định được mà đã vội giở giói châm biếm chế diễu theo kiểu truyền thống dân gian: quan lớn lại - quan lái lợn. Ví dụ ở báo Lao động này cho thấy có một hiện tượng đang xảy ra trong xã hội Việt Nam, đó là khi có những quy kết về một vấn đề nào đó,  thường là những vấn đề liên quan tới dòng chính, mặc dù không hiểu quy kết đó đúng hay sai, đều sồn sồn lên như một đám lên đồng và mặc định rằng những quy kết đó đúng. Tôi gọi hiện tượng này là "mặc cảm dòng chính". Đây là một vấn đề đáng lo ngại.

Những bài viết của tôi trong chủ đề này:

10. Phông vi tính nào?
9. Chữ Tống thể trong khắc gỗ ở Việt Nam
8. Tống thể trong in ấn
7. Chữ cương chân thư dị thể
6. Chữ cương trên bia
5. Cương cường trên ấn
4. Bàn về khai ấn
3. Khóa ấn, khai ấn, phong ấn, phất thức
2. Có phải chỉ có triện thư khắc ấn?
1. Cương có cần thổ?

Bàn về khai ấn

Nhân chuyện nghi ngờ về ấn đền Trần mà nảy sinh ra vấn đề lễ khai ấn có thật hay không trong lịch sử. Phần trước tôi đã trích dẫn một số tài liệu cho thấy thư tịch lịch sử có chép về khóa ấn, khai ấn, phong ấn, phất thức. Các hoạt động này chỉ là định lệ. Đến thời Minh Mạng phong ấn và phất thức mới trở thành điển lệ ở triều đình. Còn ở các địa phương phong ấn và khai ấn chỉ như là định lệ, đóng vai trò như đánh dấu ngày bắt đầu nghỉ làm việc và ngày bắt đầu làm việc trong dịp lễ Tết. Nhưng ở đây cũng thấy rằng phong ấn và khai ấn được ghi trong thư tịch lịch sử là các hoạt động của bộ máy công quyền. Vậy các đền, điện thờ có định lệ phong ấn và khai ấn không? Tôi nghĩ rằng các định lệ này quá nhỏ để có thể được ghi chép trong thư tịch. Song một điều tất yếu chắc phải xảy ra là nếu có ấn được sử dụng thì khả năng có định lệ phong ấn và khai ấn là khá cao. Vậy ấn ở đền, điện thờ được dùng vào việc gì? Ấn ở đền, điện thờ được dùng để đóng dấu lên các bùa chú. Các bùa chú có thể có các loại khác nhau như để trừ tà, đuổi yêu, chữa bệnh... Tờ ấn ở đền Trần cũng không phải là ngoại lệ. Đó là một dạng bùa chú. Hàng chữ "Tích phúc vô cương" thể hiện rất rõ đấy là bùa chú, bởi vì lá bùa này ban phúc vô cùng cho người có nó. Do vậy có thể tin rằng lễ khai ấn ở đền Trần là một định lệ, đánh dấu ngày bắt đầu hoạt động của đền Trần trong việc cung cấp bùa chú. Tôi tin rằng có lễ khai ấn thì bắt buộc phải có lễ phong ấn vào dịp sát Tết.

Bùa chú là một tín ngưỡng dân gian. Đây là phong tục hay đây là hủ tục? Tôi thấy các đền chùa ở Nhật Bản cũng bán các túi bùa nho nhỏ đeo vào người để trừ tà đuổi yêu. Bùa chú về một mặt nào đó cũng có tác dụng tích cực về mặt tâm lý. Do vậy cũng không nhất thiết phải xóa bỏ bùa chú. Chỉ cần xóa bỏ các hoạt động mê tín có tác hại cho con người như đốt bùa chú lấy nước uống chữa bệnh. Nhưng có một vấn đề quan trọng ở đây là có nên biến các định lệ mang tính chất tín ngưỡng dân gian như hoạt động khai ấn tạo bùa chú thành điển lệ quốc gia? Tôi cho rằng không nên. Chính quyền không ngăn cản các hoạt động như vậy, song cũng không nên tham gia vào. Bởi vì chính quyền không thể là một quyền thế tín ngưỡng.  


Khóa ấn, khai ấn, phong ấn, phất thức

Các đoạn trích sau được lấy từ bài viết của Nguyễn Thị Chân Quỳnh:

Lễ Khóa ấn

25 tháng chạp làm lễ Khóa ấn trong một tháng, hộp đựng ấn úp mặt xuống. Chỉ những việc trọng đại như sát nhân, phản quốc... mới được xét ngay, còn trộm cắp lặt vặt, đánh nhau, đòi nợ vv. thì đình chỉ, đợi ngày khai ấn mới xét xử.

(BARON, Samuel : Description du Royaume de Tonquin. Bản dịch của H. Deseille.)

Nghi tiết ở phủ Chúa (lược) :

Sáng mồng một, hiệu Thiên-hùng bắn súng hiệu, hiệu Thị-trung đánh trống nghiêm. Tướng sĩ thuộc các đội thuyền đứng hầu hoặc đi tuần sát.

Tư-thiên-giám đã chọn giờ và phương hướng tốt để Chúa đi lễ. Các quan rước Chúa đến Thái miếu và Cungmiếu hành lễ rồi về phủ.

Chúa ngự long tọa. Quan và lính hiệu Thị-hậu đứng hầu. Binh phiên ban tiền thưởng Xuân theo cấp bậc : nhất phẩm được 5 quan tiền, nhị phẩm được 4 quan... cửu phẩm một quan, Tư-thiên-giám được 6 tiền, nhạc công một tiền.

Tư-thiên-giám chọn giờ tốt khải Chúa khai ấn.

Tiết-chế-phủ dẫn các quan từ cửa Cáp-môn tiến vào phủ đường. Bốn viên Ðiển-giám (dùng Khoa quan), hai đứng ở bên Tả và bên Hữu trong phủ, hai đứng ở ngoài phủ. Tiết-chế-phủ và các quan theo thứ tự lạy mừng. Chúa ban yến. Dự yến xong, các quan làm lễ tạ ơn. Chúa về cung, Tiết-chế-phủ về phủ.

Các quan lại đến phủ Tiết-chế chúc mừng.

(PHAN HUY CHÚ : Lịch Triều Hiến Chương - Lễ Nghi Chí. Hà-nội. Tổ Phiên dịch Viện Sử Học, 1961.)

Năm 1659, Bento Thiện, một "Thầy giảng" đạo Thiên chúa đã viết về Tết như sau :

"Thói nước Annam, đầu năm mùng một tháng giêng, gọi là ngày Tết. Thiên hạ đi lạy Vua, đoạn lạy Chúa, mới lạy ông bà ông vải, cha mẹ cùng kẻ cả bề trên. Quan quyền thì lạy Vua Chúa, thứ dân thì lạy Bụt trước. Ăn Tết ba ngày, mà một ngày trước mà xem ngày mùng hai, mùng ba, ngày nào tốt, thì Vua Chúa đi đền Giao, gọi là nhà thờ Trời, hiệu Thiên Thượng Ðế Hoàng Ðịa Kì. Vua Chúa đi lạy mà xin cho thiên hạ được mùa cùng dân an. Ðến mùng bẩy mùng tám mớì hết, cùng làm cỗ cho thiên hạ ăn mười ngày. Lại xem ngày nào tốt mới mở ấn ra cho thiên hạ đi chầu cùng làm việc quan, cùng hỏi kiện mọi việc ; lại làm như trước mới khai quốc, thiên hạ vào chầu Vua. Từ ấy mới có phiên đi chầu. Nội Ðài, Ngoại Hiến, Phủ Huyện, quan đảng nha môn, mới có kiện cáo. Ðến trung tuần mới có Khánh thọ bảo thần cho thiên hạ mừng tuổi Vua. Ai có nghề nghiệp gì thì làm cho Vua xem. Ðến hạ tuần tháng giêng, Ðức Chúa lại Tế Kỳ Ðạo dưới bãi cát, làm đàn thờ. Trước thì thờ Thiên Chúa Thượng Ðế một đàn, là một đàn từ Vua Lê Thái Tổ cho đến nay, một đàn thì thờ Thần Kì Ðạo. Ðức Chúa lạy ba đàn này. Ðoạn đến đàn Thần Kì Ðạo, Ðức Chúa lạy đoạn, liền chỉ gươm cùng chém, lại bắn cung. Ðoạn lại đánh trống mà chỉ gươm cho thiên hạ mới đuổi đi, thì gọi là khao quân. Ðoạn liền về tập voi tập ngựa, gọi rằng đã hết năm mới.

(ÐỖ QUANG CHÍNH : Lịch sử chữ quốc ngữ. (1620-59). Saigon : Ra Khơi, 1972 ; Paris : Ðường Mới tái bản, 1985.)

Lễ Phất-thức và lễ Phong ấn

- Năm 1807, định lệ hàng năm đến ngày 25 tháng chạp âm lịch thì khóa ấn, mồng 7 tháng giêng thì khai ấn.

- Năm 1827, vua dụ : " Hết năm có lệ phong ấn để các nha dành ít ngày nghỉ ngơi, nhàn hạ trong khi cả năm phải siêng năng, chăm chỉ làm việc. Ðấng vương giả theo phép Trời làm việc mạnh mẽ, tự cường, không nghỉ ngơi còn sợ chưa hợp ý Trời, chưa thỏa mãn nguyện vọng của nhân dân nên trẫm không muốn một ngày nhàn rỗi. Từ nay ấn tín quốc gia, hành dụng vẫn theo thường lệ. Còn các nha môn trong ngoài, cuối năm phong ấn, đầu giêng, khai Xuân, khai ấn, cứ theo lệ cũ mà làm".

Trước khi khai ấn phải rửa ấn, gọi là lễ Phất-thức. Nguyễn Công Hoan viết : Rửa ấn chỉ được phép ngâm rượu cho các chất bẩn giắt trong kẽ rã ra, không được lấy tăm khều cho nhanh vì làm thế sẽ độc, trong năm có nhiều án mạng xẩy ra (17).

Nhưng đấy là ở các nha môn, trong triều lễ Phất-thức long trọng hơn nhiều :

Nội Các chọn một trong mười ngày cuối tháng chạp làm lễ, được vua chuẩn. Các Hoàng thân, các quan trong viện Cơ Mật, trong Nội Các dự lễ cũng do Nội Các đề cử. Sáng hôm Phất-thức, bộ Lễ sai bầy bàn ở điện Cần-chánh. Sáu cái tủ khảm lớn đặt ở hai bên cửa điện, trong đựng các hộp ấn được mở ra trước mặt Hoàng thượng. Các ấn triện bằng vàng, ngọc, pha lê vv. của các tiên đế, Hoàng thượng, phi tần, được rửa bằng nước hương thủy (nước có ngâm các thứ hoa) rồi chùi bằng nhiễu điều. Ban đầu, các quan dự lễ mặc thường triều, sau thấy bất tiện nên đổi ra mặc áo thụng xanh. Sau khi rửa xong, ấn triện được cất lại vào trong tủ, rồi vua ban yến.

- Năm 1830, định lệ sau ngày phong ấn, gập những việc cần, Lục bộ, các nha và Nội Các tâu lên dùng ấn vàng. Ðến ngày khai ấn triện quan phòng, chua rõ năm, tháng, ngày nào dùng để làm bằng chiếu.

- Lễ Phất-thức đầu tiên của triều Nguyễn diễn ra vào năm 1837. Lễ Phất-thứcnăm 1919 được cử hành vào ngày 24 tháng chạp, tức là ngày 25/1/1919.

(JACNAL, Jean : "Mémoires de S.E. Huỳnh Côn dit Ðan Tương. Ancien Ministre des Rites", Revue Indochinoise, No 1-2, Jan.-Fév. 1924.)


Cương có cần thổ?

Photobucket

Hàng chữ Tích phúc vô cương trên ấn Trần

   Photobucket
                                                      Chữ "cương" dị thể

Photobucket
                                                      Chữ "cường" 

Báo Tiền Phong có bài viết nghi vấn ấn đên Trần là giả. Tôi không biết về ấn chương nên không thể bàn luận về kiểu chữ trên ấn. Nhưng bài báo cho rằng chữ "cương" viết trên ấn thiếu chữ "thổ" nên biến thành chữ "cường", thành ra "tích phúc vô cương" biến thành "tích phúc vô cường". Ở đây tôi muốn bàn là liệu chữ "cương" có nhất thiết phải có chữ "thổ"? Tôi tra Dị thể tự tự điển thì thấy có một dị thể của chữ "cương" không có chữ "thổ". Liệu chữ "cương" dị thể này có thể lẫn với chữ "cường" không? Chúng không thể lẫn với nhau. Thoạt nhìn thấy chúng rất giống nhau, nhưng nét trên cùng của chữ "cường" là một nét ngang, còn trên đỉnh chữ "cương" dị thể là hai chấm trên nét ngang. Chữ "cương" dị thể không có chữ "thập" nằm giữa hai chữ "điền" như chữ "cường". Hình chụp trên báo Tiền phong khá lờ mờ, nhưng tôi vẫn nhận thấy trên đỉnh chữ "cương" trên ấn Trần là hai nét, có khoảng trống ở giữa. Giữa hai chữ "điền" cũng không có chữ "thập" hay một nét ngang. Nhưng trên chữ "cương" trên ấn không thấy có nét ngang dưới hai chấm. Tuy vậy tôi vẫn cho rằng chữ trên ấn Trần là chữ "cương" dị thể chứ không phải là chữ "cường". Tra chữ "cường" trên Dị thể tự tự điển cũng không thấy có dị thể mà nét trên đỉnh là hai nét hay giữa hai chữ "điền" không có nét nào.

Nghĩ về lễ Tịch điền

Sau những băn khoăn nhất định về tổ chức lễ hội, lễ Tịch điền đã diễn ra và có thể nói là tốt đẹp. Trang phục của Chủ tịch nước trong lễ Tịch điền có thể nói là được. Bên cạnh những thành công, lễ Tịch điền cũng bộc lộ những nhược điểm của nó. Tạm thời không bàn tới những chi tiết không lớn về tổ chức lễ hội, như đeo mặt nạ giả làm vua Lê Hoàn, một yếu tố lạ trong văn hóa Việt Nam. Ngay trong biểu diễn nghệ thuật, kịch nghệ Việt Nam truyền thống đều không sử dụng mặt nạ, tuy có trang điểm, hóa trang khuôn mặt theo những quy tắc nhất định. Nhược điểm lớn nhất của lễ Tịch điền là tính hiện đại và khoa học. Ngay từ năm 1943 Đề cương Văn hóa đã đưa ra khẩu hiệu về các hoạt động văn hóa: dân tộc, đại chúng và khoa học. Lễ Tịch điền thể hiện được hai đặc điểm: dân tộc và đại chúng. Lễ Tịch điền thiếu một đặc điểm cốt tủy: khoa học, tức là tính hiện đại ngày nay. Thành ra người ta có thể diễu lễ Tịch điền là con trâu đi trước, cái cày đi sau, Chủ tịch nước còn đi sau cái cày. Ngay thực tế, nông dân ngày nay đã ít sử dụng trâu để kéo cày, các con trâu trong lễ Tịch điền đa phần là trâu thịt. Thế kỷ 21 mà vẫn còn con trâu kéo cày thì đấy là một điều hổ thẹn và đáng xấu hổ cho đất nước. Con trâu, cái cày vốn là biểu tượng của nghèo nàn và lạc hậu. Điều hổ thẹn đó lại được nâng tầm ở cấp độ quốc gia thì đấy là điều rất đáng phải suy nghĩ. Các nước từng có lễ Tịch điền như Trung quốc hay Hàn quốc đều không thấy phục dựng lại điển lễ này. Lễ Tịch điển có thể cải biến thành lễ hội, một hoạt động văn hóa cộng đồng, trong đấy có thể có biểu diễn trâu cày, như một tái hiện lại kỹ thuật nông nghiệp cổ điển, nhưng ở đấy Chủ tịch nước không thể đóng vai kép biểu diễn lại kỹ thuật cổ xưa đấy. Việc xây dựng lễ Tịch điền thành điển lễ quốc gia ngày nay rất cần phải thận trọng, bởi vì nó không có đủ các yếu tố mà Đề cương Văn hóa đã vạch ra.

Xây dựng một điển lễ thể hiện chính sách khuyến nông và truyền thống trọng nông của dân tộc là điều có thể nên làm. Nhưng lễ Tịch điền đã thiếu tính hiện đại và khoa học là điều cần phải cân nhắc trước khi biến nó thành điển lễ. Hồ Chí Minh là người có những hoạt động khuyến khích về nông nghiệp, nhưng đã không tổ chức lễ Tịch điền. Bên cạnh đó những hoạt động trồng cây nhân dịp năm mới được Hồ Chí Minh hay sử dụng. Trồng cây rõ ràng cũng mang nhiều ý nghĩa, không chỉ về nông nghiệp, mà còn về môi trường, tầm nhìn và tương lai, có đầy đủ các yếu tố: dân tộc, đại chúng và khoa học.  


Lễ Tịch điền thời nhà Nguyễn

Lễ Tịch điền thời tiền Lê như thế nào thì dường như không thể tìm hiểu được chi tiết, nhưng lễ Tịch điền thời nhà Nguyễn thì chi tiết lại khá dễ tra cứu. Lễ Tịch điền thời nhà Nguyễn trở thành điển lệ, nói theo ngôn ngữ ngày nay, là lễ hội cấp quốc gia, nên nó được chép rành mạch trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Tôi không có bộ hội điển này nhưng Đại Nam thực lục chép khá rõ ràng nên có thể hình dung khá dễ lễ Tịch điền thời nhà Nguyễn. Theo Đại Nam thực lục, khi Minh Mạng làm lễ Tịch điền đầu tiên của nhà Nguyễn, lúc tế lễ vua mặc áo hoàng bào, đai ngọc, đội mũ cửu long. Sau khi làm lễ xong, vua thay áo long bào chẽn tay, đai ngọc và đội mũ Đường cân cửu long để cày. Các đoạn trích sau lấy từ Đại Nam thực lục.

Bắt đầu đặt ruộng tịch điền

Vua bảo bầy tôi rằng : “Đời xưa vua cày ruộng tịch điền, để lấy gạo làm xôi tế Giao Miếu, nhân thể để xét thời tiết làm ruộng khuyên giúp nông dân, thực là việc lớn trong vương chính. Cái điển ba đường cày, sách vở còn chứng. Nước ta đời Trần đời Lê gián hoặc có làm nghi điển ấy, nhưng phần nhiều giản lược. Trẫm từ thân chính đến nay, chăm nghĩ đến dân, thường lấy việc dạy dân chăm nghề gốc làm gấp. Hiện nay triều đình nhàn rỗi, giảng tìm phép xưa, thực là việc nên làm trước. Nên chọn đất ở trong Kinh thành làm chỗ tịch điền”. Bèn sai đặt ở hai phường Hậu Sinh, An Trạch, bên tả dựng đài Quan Canh, đằng trước làm ruộng đế tịch, đằng sau làm điện thay áo, bên hữu đặt đàn Tiên Nông và đình Thần thương thu thóc. Sai Trung quân Tống Phước Lương coi làm. Thưởng tiền cho thợ và biền binh làm việc 5.000 quan. Lại đặt sở Diễn canh (tập cày) ở phía bắc cung Khánh Ninh, gọi là vườn Vĩnh Trạch. Sai bộ Lễ bàn định điển lệ. Hằng năm cứ tháng trọng hạ (tháng 5) chọn ngày tốt làm lễ.

Trước kỳ, phủ Thừa Thiên sức cho nông dân cày bừa ruộng tịch điền trước cho đất mềm kỹ. Trước 5 ngày, vua ngự vườn Vĩnh Trạch xem tập cày. Trước 1 ngày quan phủ Thừa Thiên lĩnh đệ 1 cái roi, 1 cái cày, 1 thùng thóc, đặt lên án vàng trên thềm giữa điện Cần Chính. Vua thân xem đồ nông cụ xong, quan bộ Hộ mang giao cho quan phủ Thừa Thiên tiếp nhận mang ra cửa Tả Túc, đặt vào long đình. Nghi trượng nhã nhạc dẫn trước, tàn lọng che lên, đến cửa Tả Đoan. Rồi lấy roi, cày, thúng thóc chia làm 12 phần, đặt ở Thái đình, theo thứ tự đi sau đến ruộng tịch điền, chiếu thứ vị bày ra, giờ Tỵ ngày hôm ấy, vua đến cung Khánh Ninh trú chân. Biền binh đứng bày hàng ở tả hữu đường vua đi. Lại bày lính và voi cờ súng ống ở ngoài tường ruộng tịch điền. Giờ Tý ngày ấy, Hữu ty bày lễ phẩm trên đàn Tiên Nông. Canh năm, trống nghiêm ba hồi, thị vệ bày lỗ bộ ở ngoài cửa cung Khánh Ninh. Đến giờ Mão, vua đội mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc lên kiệu, người dẫn trước, người theo sau, đúng nghi vệ. Nhã nhạc có bày nhưng không cử. Đến tường phía nam đàn Tiên Nông, các quan mang mũ áo thường triều quỳ đón ở phía trong cửa phường. Vua đến bên đông đường thần lộ xuống kiệu vào tế. Lễ xong vua ngự đến điện cụ phục, thay mang mũ Đường cân cửu long, áo long bào chẽn tay, thắt đai ngọc. Bộ Lễ tâu xin làm lễ cày tịch điền. Vua đến chỗ cày, đứng trông hướng nam, các quan đứng chầu ở tả hữu đài Quan Canh ; quan Thái thường tự xướng, quan Lễ bộ dâng cày, quan phủ Thừa Thiên dâng roi. Vua tay phải cầm cày, tay trái cầm roi, kỳ lão và nông phu đều 2 người dắt trâu, thị vệ 2 người đỡ cày. Ca sinh hát bài “Hoà từ”, nhạc sinh múa cờ màu ; nhã nhạc cử nhạc. Phủ Thừa Thiên bưng thùng thóc đi theo. Hoàng tử cùng quan Hộ bộ đều cử một người theo sau vãi thóc. Vua cày 3 đường đi 3 đường lại xong, ngự lên đài Quan Canh. Các quan ở dưới đài chia 2 bên đứng hầu. Các hoàng tử, và thần công theo cày, đều đội mũ vàng mặc áo đỏ, cầm cày cầm roi cày 5 đường đi 5 đường lại, kế đến văn võ đại thần 9 người, văn đội mũ văn công, võ đội mũ hổ đầu, đều mặc áo lam, cùng cầm cày cầm roi cày 9 đường đi 9 đường lại. Đều dùng thuộc lại kinh huyện đi theo sau bưng thùng thóc vãi thóc. Lễ xong, vua ngự điện cụ phục, thay mặc long bào rộng tay, lên kiệu. Đại nhạc nhã nhạc đều nổi. Các quan lại ở trong cửa phường quỳ tống. Vua về cung Khánh Ninh. Các quan làm lễ khánh hạ. Ban yến và ban thưởng theo thứ bậc. Quan phủ Thừa Thiên đem nông dân cày hết số ruộng tịch điền hơn 4 mẫu 4 sào, lấy hơn 2 mẫu 9 sào trồng lúa nếp, hơn 1 mẫu 4 sào trồng lúa tẻ. Sau khi gặt lúa, quan phủ Thừa Thiên hội đồng với bộ Hộ chọn lúa giống để riêng, còn thừa thì chứa vào kho Thần thương, gặp các tiết lễ Giao Miếu thì thổi xôi. Sau đấy hằng năm việc tế đàn Tiên Nông đều sai Kinh doãn khâm mạng làm lễ. Lễ cày ruộng tịch điền thì nếu có quan phụng mạng làm thay, cùng những năm vua đi thăm địa phương thì cũng do Kinh doãn cày thay). Lại sai chọn mua thóc tẻ thóc nếp ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Trị, Sơn Tây thuộc Bắc Thành lấy những thứ chất gạo trắng tinh, mà khí vị thơm dẻo, giao cho phủ Thừa Thiên chứa để dùng làm thóc giống.

Định lệ cày ruộng tịch điền và chăn tằm ở các địa phương

Vua dụ bộ Lễ : “Ta nghe nói các vua và hoàng hậu đời xưa đều trọng nghề làm ruộng và trồng dâu, để phụng thờ Giao miếu, làm gương mẫu cho muôn dân. Năm Minh Mệnh thứ 9 [1828] đã cử hành lễ cày ruộng tịch điền, hằng năm đặt làm thường lệ. Đồng ruộng đầy của ngọc thực, kính dùng để cung vào việc tế tự. Hiện nay Trung cung tuy chưa kiến lập, nhưng cũng có thể phỏng theo lối cổ, tự mình chăn tằm. Năm nay, bèn sai các phi tần đốc suất các cung nhân, lựa đất chăn tằm, quả thấy được tốt : tơ kén đầy nong, định dệt thành lụa, từ lễ Thu hưởng năm nay trở về sau có thể kính dâng ngay được đồ tơ lụa ; nay ta muốn mở rộng công việc ấy để khuyến khích nghề làm ruộng và tằm tang. Vậy việc cày tịch điền và nuôi tằm ở các địa phương nên làm thế nào, bộ Lễ các ngươi nên bàn kỹ tâu lên”.

Quan bộ Lễ đều hết lòng tham khảo lựa nghị. Sau khi được chỉ, sao chép ra đưa các địa phương bắt đầu cử hành từ năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], ghi thành điển lệ. Vua chuẩn y.

Việc cày ruộng tịch điền: Các địa phương nên chọn đất ở phía ngoài thành của tỉnh hay trấn, đặt làm 3 mẫu tịch điền, chung quanh đắp tường đất, phía trước và hai bên tả hữu đều mở 1 cửa. Chính giữa chỗ đầu ruộng, đặt một chỗ vọng khuyết hướng về phía nam. Phía tây ruộng, chọn 3 sào đất, chung quanh trồng tre, đằng trước và hai bên tả hữu cũng đều mở một cửa. Chính giữa xây đàn Tiên Nông, hướng về phía nam, về phía đông bắc đàn, đặt kho Thần thương, trước kho xây đình thu thóc, lấy dân sở tại 15 người, sung làm nông phu tịch điền và giữ đàn sở, trừ miễn dao dịch cho. Lại dự bị một con trâu đen để cày ruộng tịch điền và 2 con trâu đen để làm trọn khu ruộng ấy. Đồ cày ruộng và thóc nếp đều có đủ. Mỗi năm trên bộ báo cho biết ngày cày tịch điền thì các viên Tổng đốc, Tuần phủ hay trấn quan đem các văn võ thuộc hạt, mặc triều phục, tới đàn Tiên nông làm lễ. Khi lễ xong thì thay triều phục, đội mũ văn công, mặc áo bào hàng màu, hẹp tay, thắt dây lưng, vận quần ngắn đi giày và bí tất, tới chỗ tịch điền thân hành cầm cày, 2 người kỳ lão dắt trâu, 2 người nông phu đỡ cày ; thông phán, kinh lịch bưng hòm, một người gieo thóc. Cày 9 luống lại ; khi xong, lại đổi mặc triều phục làm lễ ở vọng khuyết 5 lạy. Lễ xong, thì nông phu cày trọn khu ruộng ấy. Đến khi gặt xong thì lựa thóc giống cất riêng, còn thì chứa vào kho Thần thương, phái lính coi kho trông giữ, để làm xôi cúng tế.

Trang phục trong lễ Tịch điền

Vietnamnet đưa tin lãnh đạo nhà nước sẽ cày trong lễ Tịch điền, nhưng băn khoăn không biết trang phục cho vị lãnh đạo này sẽ như thế nào vì sử sách không thấy viết đến. Thư tịch của Việt Nam nhiều khi cũng dở, không viết tỉ mỉ cụ thể để cho con cháu đời sau còn hình dung. Nhưng lễ Tịch điền không phải là một phong tục của riêng người Việt Nam. Các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đều có lễ Tịch điền trong lịch sử của mình. Tôi tìm thấy ảnh một bức phù điêu ở Tây hồ, có tên là "Thân canh tịch điền đồ" miêu tả Hoàng đế Nam Tống cày ruộng Tịch điền. Bức phù điêu này là đồ hiện đại, được dựng theo sáng tác của Phó Bá Tinh, một danh họa và nhà báo thời nay. Phó Bá Tinh căn cứ vào Tống sử để vẽ. Có thể tin là bức phù điêu miêu tả chân thực cảnh cày ruộng trong lễ Tịch điền, ít nhất trong cảm nhận thời nay của người Trung Quốc. Xem bức phù điêu có thể thấy Hoàng đế Nam Tống mặc trang phục của vua thời bấy giờ, có tấm vải khoác sau lưng, đầu đội mũ. Người dắt trâu và phụ cày đều ăn mặc theo lối nông dân. Tôi không hiểu Việt Nam căn cứ vào đâu mà lễ Tịch điền năm ngoái cho người cày chính đeo mặt nạ theo kiểu Thần Nông. Trông rất kỳ dị. Thời Nam Tống tương đương với thời Lý ở Việt Nam, phong tục giữa hai nước có lẽ có điểm tương đồng. Vì vậy tôi nghĩ rằng lãnh đạo nhà nước cày ruộng tịch điền có thể mặc trang phục theo lối cổ truyền, và không nên đeo mặt nạ.

Photobucket

Cập nhật 28-1-2010

Tôi tìm thấy bức vẽ tịch điền trong quyển Nông thư của Vương Trinh thời nhà Nguyên. Bức vẽ này cho thấy vị vua mặc trang phục thiết triều, rất giống thời Hán-Đường.

Photobucket

Đây là bức "Thân canh đồ" trong "Đường thổ danh thắng đồ hội"

Photobucket

Đây là bức tranh vẽ "Khang Hi thân canh đồ" . Khang Hi bận triều phục

Photobucket

Đây là bức tranh vẽ lễ Tịch điền ở Myanmar. Vị quốc vương Myanmar mặc trang phục tiết lễ.

Photobucket

Còn đây là bức ảnh lễ Tịch điền ở Hàn Quốc vào năm 1909

Photobucket

Photobucket

Dưới đây không phải là điển lễ, chỉ là một số hình ảnh của Hồ Chí Minh, tham gia lao động trong các chuyến viếng thăm dân. Đúng là một bậc thầy về quan hệ công chúng và nghệ thuật tuyên truyền. Sau Hồ Chí Minh không thấy một lãnh đạo nào đạt được tầm như vậy trong quan hệ công chúng và tuyên truyền.

Photobucket

Photobucket