Bài mới

Nhận xét mới

Hoa thủ cầu Nhật

Photobucket

Hoa này có tên khoa học là Spiraea japonica, cùng một chi với hoa thủ cầu Spiraea cantoniensis. Do vậy hoa này có thể gọi bằng tên "thủ cầu Nhật", còn hoa Spiraea cantoniensis có thể gọi là "thủ cầu Quảng Đông". Thật ra người Nhật gọi hoa này là "Hạ dã" (shimotsuke), là tên gọi một vùng ở Nhật, nơi có nhiều hoa này. Cái tên "thủ cầu Nhật" này cũng không được trọn vẹn lắm, bởi vì còn có hoa Spiraea nipponica. Để khỏi trùng tên nhau, Spiraea nipponica có lẽ phải gọi là "thủ cầu Phù Tang" hay "thủ cầu Đông Doanh" hay "thủ cầu Nhật núi" (suy từ tên Nhật: iwashimotsuke).

Bài haiku sau của Naitoh Toten, một bài haiku hiện đại:

yama-hibari sudatsu shimotsuke-no hana-zakari

Tôi dịch như sau:

Chim sơn tước rời tổ
Hoa thủ cầu Nhật
Nở rộ

Yama-hibari là chim sơn vân tước, có tên khoa học là Prunella montanella. Bài haiku này là sự liên tưởng, giữa tổ chim sơn tước và chùm hoa thủ cầu Nhật. Khi hoa thủ cầu Nhật nở rộ, các nhị hoa tua tủa ra ngoài, như một cái tổ chim. 


No comments:

Post a Comment