Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label yphuc. Show all posts
Showing posts with label yphuc. Show all posts

Mũ nội quan triều Nguyễn

Photobucket

Từ bức tranh vẽ trong bộ tranh mà báo Tuổi trẻ nói đến, tôi nhận thấy mũ thái giám đội ở triều Nguyễn chính là mũ trung quan của triều Minh. Y phục của nội quan triều Nguyễn ít họa tiết hơn mãng bào của nội sứ triều Minh.

Photobucket

Trang phục triều Nguyễn



Báo Tuổi trẻ có đưa thông tin về bộ tranh vẽ về triều Nguyễn được chào bán ở Mỹ. Tôi thấy bộ tranh này rất quý. Nó cho thấy nghi lễ, trang phục triều Nguyễn như thế nào. Giá mà tôi được xem hết tất cả bức vẽ! Nhưng chỉ mới vài bức mà Tuổi trẻ giới thiệu, có thể thấy, hình dung của tôi về trang phục triều Nguyễn, mà tôi từng đưa trên blog này hồi tranh luận về bộ phim Đường tới thành Thăng Long,  không sai chút nào. Về cơ bản, trang phục triều Nguyễn không khác trang phục triều Minh. Không biết những kẻ la ó "lai Tàu" này nọ giờ nghĩ sao nhỉ?

Những bài viết của tôi về trang phục:

1. Trang phục thời Lý Trần như thế nào?
2. Trang phục của người Việt trong mắt người Nhật
3. Trang phục nho sinh của người Việt
4. Trang phục quan lại triều Nguyễn
5. Mũ miện
6. Tước biện
7. Mũ phốc đầu, ô sa, triều thiên, xung thiên
8. Lại mũ miện
9. Mũ bình đính
10. Mũ chữ đinh
11. Mũ tam sơn
12. Bát giác tiêu dao
13. Mũ vua triều Nguyễn
14. Búi tóc của người Việt



Búi tóc của người Việt

Photobucket

Tôi thấy bức ảnh trên đây và cảm thấy rất thú vị, bởi vì nó cho thấy hình dung về mũ chữ đinh của tôi rất có cơ sở. Chú ý hình người tôi đánh dấu số 2 trong bức ảnh. Cái búi tóc của người này lệch về phía sau, phía ót, như kiểu búi tóc thường thấy ngày nay. Nếu cái búi tóc dịch lên vị trí trên đỉnh đầu, kiểu búi tóc thường thấy thời kỳ Đường-Tống thì cái mũ trong ảnh đúng là mũ chữ đinh mà tôi đã hình dung. Mũ chữ đinh xuất hiện từ thời Trần Anh Tông, kéo dài qua suốt thời Lê đến tận thời Nguyễn vẫn còn được sử dụng. Kiểu mũ này là thứ mũ Việt thứ thiệt và dường như không thay đổi theo thời gian. Rất đáng tiếc, bộ phim Long thành cầm giả ca đã không sử dụng thứ mũ chữ đinh này, mà sử dụng loại nón chóp đỏ, loại nón tôi nghĩ hoặc phổ biến ở thời kỳ muộn hơn hoặc chủ yếu binh chức sử dụng chứ không phải là quân lính sử dụng.

Như vậy có thể hình dung về vị trí búi tóc của người Việt. Thời Trần búi tóc nằm trên đỉnh đầu, kiểu búi tóc Đường - Tống. Về sau vị trí búi tóc dịch chuyển về phía ót như ngày nay. Đặc biệt, như trong bức ảnh ở trên, búi tóc được buộc bằng dải lụa và bỏ thừa về đằng sau.
 

Mũ vua triều Nguyễn


Photobucket
Mũ miện (ảnh của bee.net.vn)

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam lần đầu tiên công bố các bảo vật hoàng cung của triều Nguyễn. Tôi chú ý đến mũ của vua triều Nguyễn. Ảnh trên chính xác là mũ miện (chú ý là mũ có 12 tua, mỗi tua có 12 viên ngọc, đúng kiểu mũ đế vương) và ảnh dưới chính xác là mũ xung thiên. Các đặc điểm khác nguyên mẫu của Trung Quốc chỉ là các chi tiết nhỏ như họa tiết, trang sức trên mũ. Riêng mũ miện còn thêm tua đính vào mũ ở bên tai. Đặc điểm này có lẽ là đặc điểm Việt, và có thể là một biến tướng của tua mũ miện phía tai mà tôi đã thấy ở một số tượng trong chùa ở Việt Nam. Như vậy có thể thấy rằng hai triều Lê - Nguyễn triều phục của vua quan Việt Nam về cơ bản là lấy Trung Quốc làm mẫu mực.

Photobucket
Mũ xung thiên (ảnh của bee.net.vn)

Bát giác tiêu dao

Sách Lịch triều hiến chương loại chí viết rằng: "Lý Thái Tông mới chế ra thứ mũ gọi là "bát giác tiêu dao" bằng vàng (tên mũ, lối mũ ấy nay không khảo cứu được)". Đây có thể coi là thứ mũ "kiểu Việt" đầu tiên của vua, không phải là thứ mũ miện, mũ biện, mũ xung thiên hay mũ tam sơn vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhưng cũng rất trớ trêu về thứ mũ bát giác tiêu dao này trong lịch sử hình thành hai quan điểm khác nhau. Loại mũ bát giác tiêu dao này vốn lần đầu tiên xuất hiện trong Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Lý, Lý Thái Tông. Nhưng cũng rất không may Toàn thư lại chép thiếu một chữ, nguyên bản chỉ có "chế kim bát giác tiêu dao". Đời sau không biết bát giác tiêu dao là bát giác tiêu dao cái gì. Phan Huy Chú, Ngô Thì Sĩ cho rằng bát giác tiêu dao ở đây là mũ bát giác tiêu dao. Bản dịch Toàn thư mới của Ngô Đức Thọ cho rằng bát giác tiêu dao là cái ghế chéo hình bát giác thếp vàng. Bản dịch này cho rằng Toàn thư đã chép thiếu chữ "tọa", "bát giác tiêu dao tọa", dẫn theo Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn có chép một loại ghế xếp của người Hồ, có tên gọi là "tiêu dao tọa". Bản dịch cũ của Toàn thư lại dịch là kiệu bát giác tiêu dao.

Sự thiếu sót của Toàn thư dẫn đến không ai biết chắc bát giác tiêu dao là cái mũ, cái ghế hay cái kiệu. Nếu lập luận theo kiểu Vân đài loại ngữ có chép về "tiêu dao tọa" nên chữ chép thiếu là chữ "tọa" thì cũng có thể lập luận rằng thời nhà Tống có thứ mũ gọi là "tiêu dao cân" nên chữ chép thiếu là chữ "cân" (mũ). Nếu coi bát giác tiêu dao là mũ thì có thể phục dựng lại loại mũ này theo kiểu mũ tiêu dao của Trung Quốc, nhưng có 8 góc.

Mũ tam sơn


Photobucket
Tam sơn mạo trong sách Tam tài đồ hội

Lịch triều hiến chương loại chí viết: "Từ thời Trung hưng về sau, các lễ lớn như vua lên ngôi, tiến tôn và ban chiếu, đều đội mũ xung thiên, mặc áo hoàng bào, đai ngọc, tế Nam Giao thì đội mũ mặc áo màu huyền, rồi đến chỗ nhà thay áo, lại đội mũ xung thiên mặc áo hoàng bào, đai ngọc, đúng như lễ. Khi thường triều thì đội mũ tam sơn, mặc áo màu xanh huyền. Ngày kỵ ở nhà Thái miếu thì đội mũ bình đính, mặc áo thanh cát". Như vậy từ thời Trung hưng về sau, vua thường ngày chỉ đội mũ tam sơn, lúc lễ lớn thì đội mũ xung thiên, ngày tưởng niệm thì đội mũ bình đính. Tôi nghĩ cách đội mũ này đều có ý nghĩa.

Mũ tam sơn (tam sơn mạo hay tam sơn quan) đều có dạng tựa như chữ sơn, có ba ngọn núi nếu nhìn từ chính diện. Hình vẽ ở trên tôi lấy từ sách Tam tài đồ hội, thể hiện mũ tam sơn của Trung Quốc. Hình chụp ở dưới là mũ tam sơn của Nhật Bản (trong hình vuông). Mũ tam sơn của Nhật từa tựa như mũ triều thiên, chỉ khác có 3 đỉnh trỏ lên trời. Mũ tam sơn của Việt Nam hẳn cũng không nằm ngoài hình dạng của chữ sơn với ba ngọn núi.

Photobucket
Tam sơn quan của Nhật Bản (hình trong ô vuông)

Mũ chữ đinh

Photobucket

Mũ chữ đinh hay khăn chữ đinh (đinh tự cân) thấy chép đầu tiên trong chính sử đời nhà Trần. Đại Việt sử ký toàn thư, triều Trần Anh Tông, năm 1300 viết: "Mùa đông, tháng 10, quy định kiểu mũ áo mới của quan văn võ. Quan văn thì đội mũ chữ đinh màu đen, tụng quan thì đội mũ toàn hoa màu xanh vẫn như quy chế cũ". Sau đấy hai tháng, Toàn thư viết tiếp: "Mùa xuân, tháng giêng, xuống chiếu rằng các quan văn võ đều đội mũ chữ đinh, thêm miếng lụa bọc tóc màu tía xen màu biếc". Đến tận thời Lê - Trịnh, Hoàng Lê nhất thống chí vẫn còn viết về mũ chữ đinh: "Một đêm thế tử [Trịnh Tông] bỗng mơ thấy mình mặc áo chầu chàm, đội mũ chữ đinh, đứng ở phủ đường". Xem vậy, mũ chữ đinh tồn tại qua nhiều triều đại trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Tôi tra Trung Quốc y quan phục sức đại từ điển và không tìm ra được loại mũ nào mang tên hay tương tự như mũ chữ đinh. Không rõ tôi có tra sót ở đâu không. Như vậy có thể tạm kết luận rằng mũ chữ đinh là loại mũ của riêng Việt Nam, do người Việt Nam chế tác ra. Và có lẽ cũng vì vậy mà tôi không thể tìm được một hình vẽ minh họa nào trên mạng. Tôi đánh liều thử vẽ minh họa mũ chữ đinh như hình ở trên mặc dù tôi không biết vẽ. Vì mũ mang tên mũ chữ đinh nên tôi hình dung nó giống như chữ đinh, tức là giống như cái đinh. Không rõ hình dung mũ chữ đinh của tôi như vậy có đúng không. Lịch triều hiến chương loại chí viết về mũ chữ đinh: "thêm cái khăn lụa tía lẫn màu biếc (bịt lên đầu dùng để buộc chân tóc lại bỏ thừa về đằng sau)" nên tôi hình dung phía sau có hai đầu của dải lụa buộc tóc. Tôi tìm được bức ảnh chụp ở thế kỷ 19 (ảnh ở dưới), trong đó có mấy viên binh lại đội thứ mũ mà tôi hình dung như mũ chữ đinh. Cái mũ trong ảnh này chỉ khác mũ chữ đinh miêu tả trong Toàn thư là không có miếng lụa bọc tóc thành ra mũ không giống chữ đinh lắm vì thiếu mất cái chân chữ đinh là búi tóc.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Ngô Thì Sĩ nói: "Thể chế về mũ thời Trần phần nhiều không thể khảo được, duy kiểu mũ chữ đinh đến nay vẫn còn, kiểu dáng coi rất thô tục, nha lại và quân lính đều đội cả. Bấy giờ lấy mũ ấy thông dụng cho quan văn võ, không phải là để cho tôn nghiêm khiến người ta quan chiêm, mà chỉ phân biệt ở cái dải thắt". Qua mũ chữ đinh, chúng ta có thể thấy thêm mỹ học của người xưa. Ngô Thì Sĩ cho rằng mũ chữ đinh thô tục, không tôn nghiêm. Tôi không biết có phải vì mũ chữ đinh là loại mũ do người Việt chế tác, không theo khuôn mẫu của Trung Quốc, nên Ngô Thì Sĩ chê như thế. Nếu đúng như vậy thì có thể hình dung mỹ học của người xưa là lấy Trung Quốc làm chuẩn.

Tôi chờ đợi xem phim Long thành cầm giả ca để xem có thấy mũ chữ đinh không. Giai đoạn Lê-Tây Sơn-Nguyễn chính là thời kỳ mà mũ chữ đinh vẫn còn được nha lại, quân lính đội như Ngô Thì Sĩ có nói. Nếu không thấy có mũ chữ đinh thì tôi sẽ nói gì về bộ phim này? Ôi, thật khó làm sao!


Photobucket

Mũ bình đính

Photobucket

Mũ bình đính thực ra là ba loại mũ khác nhau. Một lý do là từ "mũ" trong tiếng Việt quá chung chung, không phân biệt chi ly "mạo", "cân" như trong tiếng Hán. Lý do khác là do vua Việt Nam thay đổi tên gọi các loại mũ.

Mũ bình đính đầu tiên thấy chép trong chính sử là "bình đính mạo". Đại Việt sử ký toàn thư chép, nhà Đinh, năm 974: "Mùa xuân, tháng hai, quy định về quân mười đạo: mỗi đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người, đầu đội mũ bình đính vuông bốn góc (loại mũ này làm bằng da, chóp phẳng, bốn bên khâu liền, trên hẹp dưới rộng, quy chế này đến đời bản triều khởi nghĩa vẫn còn dùng, đời sau vẫn theo thế)". Đây là loại mũ vuông, bằng phẳng trên đỉnh. Theo Trung Quốc y quan phục sức đại từ điển, mũ bình đính này chính là mũ "an phong đính", do nhà Nam Hán chế tạo. Điểm này cho thấy nhà Đinh nhập "mốt" của Trung Quốc rất nhanh. Không biết có phải Ngô Quyền phá quân Nam Hán mà người Việt thấy mũ bình đính. Loại mũ bình đính này dễ hình dung, nhưng tôi thử tra Google để tìm ảnh chụp thì lại không tìm thấy. Ảnh trên chỉ là ví dụ minh họa, từa tựa mũ bình đính, mà tôi thấy trên Google. Có thể loại mũ này của nhà Nam Hán không phổ biến trong lịch sử Trung Quốc nên tôi không tìm thấy trên mạng.

Mũ bình đính thứ hai là "bình đính cân". Loại mũ bình đính này cũng giống như mũ bình đính ở trên ("bình đính mạo") là có đỉnh mũ phẳng, nhưng khác ở chỗ là nó không hẳn vuông bốn góc, hơi có dạng tròn, như hình vẽ minh họa ở dưới. Theo Trung Quốc y quan phục sức đại từ điển, mũ bình đính này chính là mũ "tạo lệ cân", tức thứ mũ của tôi tớ. Sách Tam tài đồ hội vẽ loại mũ bính đinh này tròn ở đai phía dưới, và hơi có dạng chữ nhật ở phần trên mũ, như hình minh họa ở dưới.

Loại mũ bình đính thứ ba chính là loại mũ bình thiên hay mũ miện. Theo Đại Nam thực lục, năm Minh Mạng thứ 13 (1832): "Đổi lại tên gọi các triều phục (Hoàng tử, các tước Công: mũ bình thiên gọi là mũ bình đính; tam phẩm trở lên: áo bào tứ linh gọi là áo mang bao; các quan thị vệ: áo long chấn tay hẹp gọi là áo mãng lan".

Như vậy, trong các sách của Việt Nam, khi nói về mũ bình đính cần phải phân biệt cho rõ là đang nói tới loại mũ nào. Tôi xem đoạn giới thiệu phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long thấy tạo hình quân lính đội đúng thứ mũ bình đính mà Đại Việt sử ký toàn thư mô tả (xem ảnh chụp minh họa ở dưới). Nhiều khi tôi không thể nào hiểu được lối phê phán của người Việt. Muốn phê phán gì hãy giở sử sách ra!

Photobucket
Tạo lệ cân tức bình đính cân


Photobucket
Tạo lệ cân trong sách Tam tài đồ hội

Photobucket
Quân lính (không phải tướng) đội mũ bình đính trong phim
Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long

Photobucket
Tạo hình quân lính với mũ bình đính
trong bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long.
Nhưng tôi không rõ cách đội mũ như vậy có "đúng" không vì
tôi hình dung cách đội "đúng" là một góc ở phía trán, 2 góc ở tai,
và góc còn lại ở phía gáy.

Lại mũ miện

Trên trang web anhbasam.com có bài phản hồi của ông Phạm Hoàng Quân về bài viết Mũ miện của tôi. Dưới đây tôi sẽ trả lời lại ông Phạm Hoàng Quân. Còn nhận xét của ông Ba Sàm tôi không trả lời bởi vì ông ta không xứng đáng để tôi phải trả lời.

1. Ông Phạm Hoàng Quân cho rằng tôi bỏ mất cụm từ "rất khó có khả năng..." của ông. Tôi đọc lại bài báo trên báo Pháp luật TPHCM không thấy đấy là cụm từ của ông Phạm Hoàng Quân. Nguyên văn cả đoạn trong bài báo như sau:

"Tuy nhiên, theo ông Phạm Hoàng Quân, rất khó có khả năng Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ “bệ nguyên” mũ của vua Trung Quốc: “Triều đình Trung Hoa không khi nào chịu cho vua một nước “đàn em” mặc vương phục và đội mũ y hệt vua của họ, vì với họ, mũ mão của hoàng đế là để thể hiện uy quyền của “thiên tử”. Vua nước ta có muốn sử dụng theo cũng phải chế lại”."

Căn cứ theo bài báo, cụm từ "rất khó có khả năng..." là cụm từ của tác giả bài báo diễn giải nội dung lời nói của ông Phạm Hoàng Quân, đoạn trong ngoặc kép. Đoạn trong ngoặc kép tôi đã trích dẫn đầy đủ không thiếu một chữ nào.  Nếu cụm từ "rất khó có khả năng ..." là của ông Phạm Hoàng Quân thì chúng cần phải được đưa vào trong ngoặc kép

2. Ông Phạm Hoàng Quân giải thích ông giới hạn vào sự kiện lên ngôi của Lê Hoàn và Lý Thái Tổ. Tôi không thấy giới hạn nào trong câu phát biểu của ông Phạm Hoàng Quân ở trên (đoạn trong ngoặc kép). Nếu ông Phạm Hoàng Quân muốn giới hạn hẳn sẽ phải nói "triều đình nhà Tống" hơn là "triều đình Trung Hoa".

Ngay cả trong trường hợp giới hạn vào các sự kiện điển lễ của Lê Hoàn và Lý Thái Tổ, cho dù chính sử không cho biết trong các điển lễ các vị vua này đã sử dụng mũ gì,  nhưng chính sử vẫn cho biết Lê Hoàn mặc áo long cổn khi lên ngôi, mà áo long cổn thường đi cùng mũ miện, do vậy các tác phẩm nghệ thuật vẫn có quyền thể hiện theo quan điểm của mình. Các tác phẩm nghệ thuật không phải là các nghiên cứu khoa học mà cần phải thận trọng cân nhắc này nọ, bởi vì cứ cân nhắc này nọ thì sẽ chẳng bao giờ có một tác phẩm nghệ thuật nào cả.

3. Trong bài viết của tôi, tôi không viết niên đại các bức tranh tôi đưa vào, bởi vì tôi nghĩ không cần thiết. Điều quan trọng không phải các bức tranh đấy thể hiện ở niên đại nào. Điều quan trọng là Triều Tiên, Nhật Bản có sử dụng mũ miện cho vua của họ.

Song với Google, nếu muốn biết niên đại các bức tranh đấy thể hiện cũng không khó. Bức tranh vua Triều Tiên thể hiên vua Wang Geon, vị vua đầu tiên của triều đại Cao Ly, trị vì từ năm 918 đến năm 943. Dưới đây tôi thêm bức tranh Hoàng Đế Sunjong, vị Hoàng Đế cuối cùng của Hàn quốc, trị vì từ 1907 đến 1910 để thấy các vị vua Triều Tiên đã sử dụng mũ miện trong suốt chiều dài lịch sử, ít nhất từ vua Wang Geon đến Sunjong.

Mũ miện ở Nhật Bản có hẳn môt trang trên wiki, và ở đấy cũng có bức tranh vẽ Thiên Hoàng Go Daigo, trị vì từ năm 1318 đến 1339. Riêng bức tranh Nhật ở bài Mũ miện, tôi không biết chính xác nguồn gốc. Nhưng căn cứ vào tranh vẽ tôi có thể phỏng đoán đấy chính là Nữ Đế Thiên Hoàng Jito, trị vì từ năm 686 đến 697.

Photobucket
Hoàng Đế Sunjong

Photobucket
Nữ Đế Jito

Photobucket
Đây là một cảnh trong bộ phim truyền hình nhiều tập
Taejo Wang Geon của Hàn Quốc.
Không biết ở Hàn Quốc  có ai la ó những trang phục, mũ áo,
giàu sang, hoành tráng, như thấy ở trong ảnh không.
Thời kỳ mà bộ phim thể hiện là thế kỷ thứ 10,
trước nhà Đinh của Việt Nam khoảng vài chục năm.

Mũ phốc đầu, ô sa, triều thiên, xung thiên


Photobucket
Mũ phốc đầu qua các thời kỳ

Mũ phốc đầu (hay còn gọi là phác đầu) thoạt đầu là một kiểu khăn mũ, có 4 giải, 2 giải buộc ra sau gáy, 2 giải buộc trên đỉnh đầu. Về sau loại mũ này tiến hóa, đến thời Ngũ Đại (hình số 8 ở trên), hai giải sau gáy thành 2 cánh chuồn. Đời Tống (hình số 9) 2 cánh chuồn rất dài, sang đời Minh (hình số 10) lại ngắn lại và nằm dọc. Mũ phốc đầu đến đời Minh thường làm bằng thứ sa đen, do vậy nó còn có tên gọi là mũ ô sa. Việt Nam thường gọi là mũ cánh chuồn.

Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: "Xung thiên tức là mũ phác đầu, có hai cánh trỏ lên trời nên gọi là mũ xung thiên". Cũng theo Lịch triều hiến chương loại chí, đời Lê Thái Tông: "những khi tế trời, tế tôn miếu, lễ khánh tiết, tết Nguyên đán, vua mặc áo long cổn, đội mũ miện, lên ngự bảo tọa; còn lễ thường triều, những ngày mồng một và ngày rằm hằng tháng, thì mặc áo hoàng bào, đội mũ xung thiên, lên ngự kim tọa". Theo Trung Quốc y quan phục sức đại từ điển, mũ triều thiên là mũ phốc đầu có hai cánh trỏ lên trời. Từ điển này không có loại mũ xung thiên. Căn cứ theo hai định nghĩa ở trên có thể thấy mũ xung thiên của Việt Nam cũng là dạng mũ triều thiên của Trung Quốc. Đời Nguyên, mũ triều thiên có hai cánh vểnh lên trời, sang đời Minh, hai cánh lại gập ra sau hướng lên trời. Loại mũ đời Minh còn có tên gọi là ô sa dực thiện hay ô sa chiết thượng. Theo Trịnh Quang Vũ, mũ xung thiên của Chúa Trịnh có ảnh chụp như ở dưới. Có thể nhận thấy  nếu bỏ đi các họa tiết thì mũ xung thiên này là dạng mũ ô sa dực thiện của triều Minh.

Trong bài thơ Linh cầm tiến, Văn Cao viết:

Em quỳ lạy dâng cầm
Tạ lòng người sương gió
Sau giờ phút giao thân
Đầm đìa hàng lệ nhỏ
..................................

Mão triều thiên! Mão triều thiên!
Ôi hoài vọng hoa niên
..................................

Không biết tại sao Văn Cao lại viết mũ triều thiên mà không phải là mũ xung thiên.


Photobucket
Mũ triều thiên đời nhà Nguyên

Photobucket
Mũ ô sa dực thiện hay
ô sa chiết thượng

Photobucket

Tước biện


Photobucket
Mũ tước biện trong sách Tam lễ đồ

Photobucket
Tượng Lý Thái Tổ ở cạnh hồ Hoàn Kiếm

Tước biện có thể coi là một loại mũ miện (mũ bình thiên). Khác với mũ miện, mũ tước biện không có dây tua xâu chuỗi hạt. Theo Trung Quốc y quan phục sức đại từ điển, mũ tước biện còn có tên gọi là "quảng miện". Cũng giống như mũ miện, mũ tước biện là loại mũ dùng trong đại lễ. Tượng Lý Thái Tổ ở hồ Gươm đội mũ tước biện. Tượng Lê Thái Tổ, dựng năm 1888, cũng ở cạnh hồ Gươm, đội mũ miện. Mũ miện này của tượng Lê Thái Tổ có 4 dây tua ở 4 góc. Có thể thấy tạo hình Lê Long Đĩnh trong bộ phim Lý Công Uẩn đã mô phỏng loại mũ miện này, bởi vì các loại mũ miện ở Trung Quốc có 12, 9, 7, 5, 3 dây tua (tính theo một cạnh) chứ không có loại 2 dây tua. 

Photobucket
Tượng Lê Thái Tổ ở cạnh hồ Hoàn Kiếm

Photobucket
Nhân vật Lê Long Đĩnh trong bộ phim
Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long

Mũ miện


Photobucket
Mũ miện trong bộ phim Lý Công Uẩn

Ông Phạm Hoàng Quân khi nhận xét về mũ miện trong bộ phim Lý Công Uẩn đã phán rằng: "Triều đình Trung Hoa không khi nào chịu cho vua một nước “đàn em” mặc vương phục và đội mũ y hệt vua của họ, vì với họ, mũ mão của hoàng đế là để thể hiện uy quyền của “thiên tử”. Vua nước ta có muốn sử dụng theo cũng phải chế lại". Tôi phải gọi đây là thứ logic Phạm Hoàng Quân. Bởi vì nếu vua nước ta muốn xưng "đế" một cõi thì lại càng phải sử dụng thứ mũ của "thiên tử". Song liệu có phải chỉ riêng nước Nam ta mới có thứ mũ miện của Trung Quốc? Các quốc gia đồng văn khác như Triều Tiên, Nhật Bản thì sao? Vua nước họ có sử dụng thứ mũ của "thiên tử" không? Rất hay với Google tôi dễ dàng tìm được thứ mũ miện của Hàn Quốc và Nhật Bản. Thậm chí Hàn Quốc vẫn dựng phim mà trong đó vua của họ đội chính thứ mũ của "thiên tử". Tôi không biết người Hàn có ai có thứ logic Phạm Hoàng Quân để phê phán phim của họ hay không.

Photobucket
Mũ miện trong một bức vẽ vua Triều Tiên

Photobucket
Mũ miện trong bộ phim Han Myung Hoe

Photobucket
Mũ miện trong một bức tranh Nhật Bản

Tư cách viết báo

Hôm nay tôi đọc bài báo trên tờ Pháp luật TPHCM về bộ phim Lý Công Uẩn. Điều tôi kinh nhất ở bài báo này khi trích dẫn Lịch triều hiến chương loại chí đã lờ tịt đi một chi tiết quan trọng, liên quan mật thiết tới nội dung bài báo. Lịch triều hiến chương loại chí viết: "Lê Ngọa Triều, năm Ứng Thiên thứ 13 [1006] đổi phẩm phục của các quan văn võ, đều theo như lối nhà Tống". Đây là chi tiết quan trọng mà bài báo đã lờ đi. Bài báo còn viết rằng: "phải thấy rằng vào thời Tiền Lê - Lý Công Uẩn, áo xống của người triều đình chưa thể thêu thùa lộng lẫy như thế", nhưng lại quên mất rằng chính Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế". Chắc chỉ có báo Pháp luật TPHCM mới có thể nghĩ ra áo long cổn là áo không thêu thùa (!)

Quan phục ngày xưa may bằng vải vóc gì? Rất hay là Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: "Tháng 2 [1040, triều Lý Thái Tông], vua đã dạy cung nữ dệt được gấm vóc. Tháng ấy xuống chiếu phát hết gấm vóc của nước Tống ở trong kho ra để may áo ban cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào bằng gấm, từ cửu phẩm trở lên thì áo bào bằng vóc, để tỏ là vua không dùng gấm vóc của nước Tống nữa". Đoạn chép trong Toàn thư đủ thể hiện, ít nhất đến thời Lý Thái Tông, vua và quan lại Việt Nam dùng vải Tàu hay vải Ta để may quần áo. 

Tôi nghĩ về tư cách viết báo. Liệu có thể có thứ tư cách viết báo lờ tịt hay che giấu những chứng cứ hay luận điểm bất lợi cho bài báo mình viết hay không?

Song thực sự thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên với tờ Pháp luật TPHCM. Nếu nhớ lại sẽ thấy tờ báo này từng tâng ông Ngô Đức Thọ với vụ cáo buộc ông Nguyễn Đình Hương "đạo văn", rồi lại vụ lùm xùm với báo Đời sống và Pháp luật. Cả hai vụ này đều thấy tuyên bố trên báo chí sẽ đưa vụ việc ra tòa. Cho đến nay tôi chẳng nghe thấy gì nữa. Không rõ là đã đưa ra tòa chưa. Trong khi đấy với vụ đạo văn của Nguyễn Ngọc Thơ với bằng chứng rõ ràng thì tờ báo này lại có ý bênh vực. Do vậy, báo Pháp luật TPHCM có đăng những bài viết chỉ có một nửa sự thật hay lờ tịt đi hay che giấu những chứng cứ hay luận điểm bất lợi thì cũng chẳng có gì đáng phải ngạc nhiên. Đó là loại báo như vậy.

Trang phục quan lại triều Nguyễn

Photobucket

Bức ảnh trên đây chụp quan lại triều Nguyễn ở thế kỷ 19. Có thể nhận thấy về cơ bản trang phục của quan lại triều Nguyễn giống như của nhà Minh Trung Quốc (so với hai bức ảnh ở dưới). Điểm khác biệt chỉ là các chi tiết nhỏ như cổ áo trong, họa tiết trang trí và có thể là màu sắc. Nhà Nguyễn không sử dụng trang phục của nhà Thanh cùng thời, mà lại sử dụng trang phục của nhà Minh có phần hơi cổ. Có thể nghĩ trang phục quan lại thời Lê - Nguyễn sao chép trang phục triều Minh. Câu thơ "Y quan Đường chế độ" là có thể tin được cho thời Lý - Trần. Phải thấy rằng những người làm bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long đã rất cố gắng trong thiết kế trang phục. Chỉ cần xem một đoạn giới thiệu tôi đã thấy cố gắng của họ trong những chi tiết Việt, tuy những chi tiết này nhỏ. Điều thật đáng kinh là có những người có thể nói thẳng rằng chẳng biết gì về trang phục Lý - Trần cũng như trang phục của Trung Quốc ở các thời kỳ lịch sử nhưng lại phán "lai Tàu" này nọ, và thậm chí còn đề nghị cấm chiếu phim. Họ là loại người gì vậy? Phải thấy rằng một mặc cảm dòng chính đang ngự trị trong xã hội Việt Nam, nhất là trong những chuyện có liên quan tới Trung Quốc.

Photobucket

Photobucket

Trang phục nho sinh của người Việt

Trang phục nho sinh của người Việt về cơ bản không khác gì của Trung Quốc. Bức ảnh dưới đây chụp người Việt ở thế kỷ 19. Thực ra cũng không có gì đáng phải ngạc nhiên, bởi vì  trong suốt lịch sử trung-cận đại, Trung Quốc vẫn được coi là hình mẫu chuẩn để Việt Nam noi theo.

Photobucket

Photobucket

Trang phục của người Việt trong mắt người Nhật

Tôi tìm trên mạng được hai bức vẽ người Việt của Nhật Bản. Bức dưới đây trong tập Vạn quốc nhân vật đồ, năm 1645:

Photobucket

Còn bức dưới đây trong tập Thế giới nhân vật đồ quyển, năm 1714:

Photobucket

Trang phục trong hai bức vẽ này trông khá thú vị và e rằng sẽ có người cho rằng chúng "lai Tàu". Điều có thể nhận thấy là cổ áo đàn ông đã thay đổi từ cổ tròn của thời Trần sang cổ tạo bởi nẹp vạt áo. Tuy nhiên chân đất thì vẫn như xưa. Quốc hồn quốc túy của Việt Nam là chân đất và nhai trầu. Cứ khai thác hai đặc điểm này là không sợ lai với bất kỳ nước nào.

Trang phục thời Lý Trần như thế nào?


Photobucket

Bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long đang bị phê phán là bộ phim lai Tàu. Đặc điểm lai Tàu, theo những lời phê bình, chủ yếu thuộc về vấn đề trang phục. Vậy câu hỏi đặt ra là: trang phục của người Việt thời Lý-Trần như thế nào?

Về mặt cơ bản rất khó xác định chính xác trang phục thời Lý-Trần. Bài thơ Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục, được cho là của Hồ Quý Ly, có câu: "Y quan Đường chế độ / Lễ nhạc Hán quân thần". Bài thơ này cho thấy, về mặt cơ bản, trang phục mũ áo quan lại thời Lý-Trần giống như thời nhà Đường của Trung Quốc. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, có dẫn lại đoạn chép về cách ăn mặc của người Việt thời kỳ nhà Trần trong Sứ Giao châu thi tập của Trần Cương Trung, một viên quan nhà Nguyên sang sứ nước ta:

"Thời nhà Trần, người trong nước đều cạo đầu cho nên trong Sứ Giao Châu thi tập của Trần Cương Trung nhà Nguyên chua rằng: "Con trai đầu trọc, người nào có quan chức thì chùm đầu bằng khăn xanh, nhân đân đều như sư cả." Tục cắt tóc này đến Hoàng Phúc nhà Minh mới cấm, nay dân ở Kiên Lao và Trà Lũ huyện Giao Thủy vẫn còn giữ tục ấy.

Tập Sứ Giao Châu nói: "Dân đều đi chân không, gián hoặc có người đi giày da, khi đến cung điện thì rút giày ra. Trong lúc đón tiếp ở ngoài đô ấp hàng trăm người mặc áo bào cầm hốt, đều quỳ, da chân họ rất dày trèo núi như bay, chông gai cũng không sợ. Khăn dùng màu xanh thẫm do tơ lụa chế ra. Khi đội khăn thì dùng giây sắt cài lại đằng trước cao hai thước mà gập xuồng đến cổ, lấy dải buộc thắt lại đằng sau, trên đỉnh có cài cái đinh bằng sắt. Người có quan chức thì thêm một mảnh dải vào dây sắt này. Lúc ở nhà để đầu trần, gặp có khách mới đội khăn, nếu đi ra ngoài thì có một người mang khăn đi theo, duy có quốc vương búi tóc, dùng lụa là phủ lấy búi tóc trông xa như luân cân của nhà đạo sĩ. Người trong nước đều mặc lụa thâm, áo hoa, quần mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là. Đàn bà cũng mặc áo thâm nhưng màu trắng ở trong rộng hơn để nền cổ áo rộng bốn tấc, họ cho thế là khác với đàn ông, các sắc xanh, hồng, vàng, tía tuyệt nhiên không có.

Họ chạy nhảy rất nhanh, đi lại như gió một nmàu đen thẫm như muôn vết quạ đen, đàn bà cắt tóc để lại ba tấc tết ở trên đỉnh đầu sợi tóc rồi búi chặt lại và cài bằng trâm, ở đằng sau gáy không có tóc cũng không xoa dầu xoa sáp gì cả. Những thứ vòng đeo nhà giàu dùng vòng đồi mồi, còn các người khác dùng xương hoặc sừng mà thôi không có một tí vàng bạc nào cả, nhân dân đề vẽ mình làm thành hình móc cao khuất khúc trông như hình lư đồng, đỉnh đồng thời cổ, có người xăm chữ vào bụng."

Đoạn miêu tả áo mặc trong Trần Cương Trung thi tập có hơi khác chút ít so với bản dịch của Kiến văn tiểu lục ở trên: "... giai y hắc,tạo sam, tứ cư,bàn lĩnh dĩ la vi chi" (bản Tứ khố toàn thư thiếu mất một chữ trước chữ "giai y hắc"), có nghĩa là: đều mặc áo sắc đen, áo trong thâm, bốn vạt, cổ tròn khâu bằng là (là là một thứ lụa).

Bức vẽ ở trên thể hiện lối ăn mặc của người Giao Chỉ tôi lấy trong bộ Tam tài đồ hội của Vương Kỳ, người đời Minh soạn. Như vậy dù không cụ thể, chi tiết, cũng có thể hình dung đại khái được trang phục thời Lý-Trần như thế nào. Về cơ bản, đàn ông cạo đầu, xăm mình, đội khăn. Riêng vua chúa thì búi tóc, và dùng lụa phủ búi tóc. Áo mặc có cổ tròn, thường màu sẫm. Các màu xanh, hồng, vàng, tía mà màu áo của vương hầu, dân chúng không được dùng. Theo bức vẽ của Tam tài đồ hội có thể thấy áo bào có cổ tròn, bốn vạt, tay áo ống hẹp. Đây là đặc điểm khác trang phục của Trung Quốc thời kỳ Đường-Tống.

Tôi chưa xem bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long, nên thật khó nhận xét. Nhưng căn cứ vào đoạn giới thiệu bộ phim trên Youtube, tôi thấy đoàn làm phim đã rất cố gắng thể hiện trang phục thời Lý-Trần. Cổ áo tròn, tóc búi là đặc điểm trang phục thời Lý-Trần. Đấy là những đặc điểm tinh tế mà có lẽ ít người nhận thấy. Tôi thấy bà Nguyễn Thị Tình nói: "Dựa trên các tiêu chí như khoa học, dân tộc và đại chúng, tôi đã cố gắng hết sức để trang phục của phim  thực sự là VN”, là có cơ sở. Tôi đồ rằng, những người phê phán trang phục trong bộ phim lại chính là những người không biết trang phục của Trung Quốc trong lịch sử như thế nào cũng như trang phục của người Việt thời Lý-Trần giống khác với Trung Quốc ra sao. Phê phán thì dễ, nhưng trước khi phê phán hãy chỉ ra trang phục thời Lý-Trần ra sao, hơn là cứ phán rằng "lai Tàu", nhưng tựu trung lại mù tịt chẳng biết Tàu thế nào, Ta ra sao.

Tôi nghĩ phim lịch sử có nhiều vấn đề, nhưng chẳng có lý do nào có thể cấm tính sáng tạo và thể hiện của các nhà làm phim, cho dù có giống Tàu cỡ nào đi nữa, bởi vì dù có giống Tàu thì đấy cũng là cách nhận thức và hiểu biết của các nhà làm phim tạo ra những điểm nhìn tham chiếu, để các bộ phim sau có thể nhận ra các nhược điểm của những người đi trước để khắc phục và hoàn thiện tốt hơn. Tuy nhiên tôi thấy cũng phải lo ngại vấn đề tạo ra những "lỗ trắng" trong phim lịch sử, tức là những vấn đề lịch sử đã trở thành chính thống hay chẳng có gì mà phải xét lại, nhưng khi làm phim lại lờ đi hay chỉ điểm lướt qua, mặc dù nó là đặc điểm quan trọng của thời kỳ mà bộ phim phản ánh, chẳng hạn chuyện Lê Hoàn phá Tống.

Đây là đoạn giới thiệu bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long