Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label dazai. Show all posts
Showing posts with label dazai. Show all posts

Bài tanka tuyệt mệnh của Dazai

池水は,  濁りににごり,  藤なみの, 影もうつらず,  雨ふりしきる.
伊藤左千夫

ikemizu wa
nigori ni nigori
fuji nami no
kage mo utsurazu
ame furishikiru
Ito Sachio

Nước ao
đục càng đục
sóng hoa tử đằng
bóng không còn soi nữa
mưa vẫn rơi

Trước khi trẫm mình tự tử, Dazai Osamu để lại trên bàn viết của mình bản thảo truyện Guddo bai, di chúc và bài tanka trên của Ito Sachio.

Nhân gian thất cách

Nhân gian thất cách là tác phẩm hoàn chỉnh cuối cùng của Dazai Osamu. Có thể nói đây là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Nhân gian thất cách từng được dựng thành phim, phim hoạt hình, được vẽ thành truyện tranh. Có những bộ phim tuy không dựa vào nội dung của Nhân gian thất cách nhưng được dựng từ cảm hứng từ tiểu thuyết và mang tên gọi Nhân gian thất cách. Nhân gian thất cách kể về một nhà văn tình cờ được một bà chủ quán rượu đưa cho ba quyển sổ ghi chép của một người kể về cuộc đời của chính mình từ thưở nhỏ cho đến lúc "cả hạnh phúc lẫn bất hạnh đều không có". Nhà văn đấy đọc thấy ba quyển sổ ghi chép thú vị và ông công bố chúng thành tiểu thuyết Nhân gian thất cách. Đấy là một tiểu thuyết mà người đọc có thể khai phá ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tôi thấy có ít nhất 4 vấn đề:

1. Tiểu thuyết tư
2. Cấu trúc tiểu thuyết
3. Quái
4. Hiện sinh

1. Tiểu thuyết tư

Tiểu thuyết tư (tư tiểu thuyết, shishosetsu hay watakushi shosetsu [shosetsu là tiểu thuyết]) là một thể loại văn học của văn học hiện đại Nhật Bản. "Tư" là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, có nghĩa là tôi. Về mặt Hán ngữ, "tư" còn có nghĩa là riêng, việc riêng tư, cá nhân của mình, không phổ biến cho mọi người khác biết. Như vậy đặc điểm hình thức thường thấy ở tiểu thuyết tư là tác giả sử dụng đại từ ngôi thứ nhất để tự sự. Ở đấy tác giả, nhân vật và người tự sự là một. Trong Nhân gian thất cách, có hai đại từ ngôi thứ nhất khác nhau được sử dụng. Một là watashi (tư) dùng trong lời nói đầu và lời cuối, là đại từ nhân xưng của nhà văn người tình cờ được đọc ba cuốn sổ ghi chép và công bố chúng. Hai là jibun, đại từ phản thân được chính chủ nhân ba quyển sổ ghi chép sử dụng để chỉ chính mình như một đại từ nhân xưng. Như vậy ở Nhân gian thất cách có hai cái tôi, nhưng ở một khía cạnh nào đấy, chúng là nhân vật mà cũng chính là tác giả. Về mặt nào đấy, tiểu thuyết tư có vẻ giống như tự truyện, nhưng thông thường tự truyện hay được hiểu là không hư cấu. Có những tự truyện hư cấu (fictional) và tự truyện giả (fake) nhưng tôi cho rằng chúng khác với tiểu thuyết tư. Tiểu thuyết tư là tiểu thuyết hư cấu trên nền tảng thống nhất ba là một: tác giả - nhân vật - người tự sự. Tự truyện hư cấu là tự truyện của một nhân vật hư cấu do tác giả dựng lên, không đồng nhất với chính tác giả. Tự truyện giả là tự truyện mà ký ức hay một phần ký ức là bịa. Hư cấu (fiction) và bịa (fabrication) là các khái niệm khác nhau. Một số nhà văn Việt Nam hay nói văn học là bịa là đã không hiểu sự khác nhau giữa hư cấu và bịa. Tiểu thuyết tư là hư cấu và không bịa. Nhưng về mặt cơ bản, thực chất, người đọc không thể nhận ra được những yếu tố hư cấu trong tiểu thuyết tư có phải là bịa hay không, bởi vì những yếu tố riêng tư, không một ai ngoài tác giả có thể biết được, nhưng về mặt mỹ học, tiểu thuyết tư yêu cầu tác giả không bịa ra những suy tư, tưởng tượng của mình trong lốt vỏ nhân vật của tiểu thuyết. Đặc điểm hư cấu trong Nhân gian thất cách chính là nhân vật Oba Yozo, chủ nhân của ba quyển sổ ghi chép tự sự về chính mình. Oba là nhân vật hư cấu, không có đặc điểm trùng khớp thật sự với các sự kiện của chính tác giả Dazai Osamu. Điều này có thể kiểm chứng bằng tiểu sử của Dazai Osamu, chẳng hạn lần tự tử đầu tiên của Dazai là do không hy vọng vượt qua được kỳ thi tốt nghiệp cuối cùng, trong khi ở nhân vật Oba không có sự kiện như vậy.  Nhưng Oba lại chính là nhân vật với những đặc điểm tưởng tượng được tác giả hư cấu trên chính mình. Có thể thấy, ví dụ, cú tự tử của Oba với người con gái bán bar ở Kamakura là yếu tố hư cấu từ sự việc Dazai tự tử với một người con gái bán bar cũng ở Kamakura sau khi bị đuổi khỏi gia đình. Sự việc này không chỉ đơn thuần là thay tên đổi họ trong tiểu thuyết. Đấy thực sự là một hư cấu, nhưng là một hư cấu trên chính sự kiện của tác giả, và có thể thấy nỗi niềm không giả tạo của tác giả trong hư cấu: "Chỉ còn ba đồng xu. Đó không phải là tiền. Chưa bao giờ tôi nếm trải nỗi khuất nhục quái quỷ đến vậy. Nỗi khuất nhục như vậy không thể chịu nổi". Chính vì vậy mà người đọc có cảm tưởng Oba như chính là một Dazai được đưa vào văn chương và tiểu thuyết như là một tự bạch của chính tác giả. Đó là tính hấp dẫn lưỡng đôi của tiểu thuyết tư nói chung và Nhân gian thất cách nói riêng. Người đọc như vừa khai phá nhân vật của tiểu thuyết, lại như vừa khai phá chính tác giả.

2. Cấu trúc tiểu thuyết

Về mặt hình thức, Nhân gian thất cách có 5 chương. Chương đầu và cuối là lời nói đầu và lời cuối, dẫn nhập về câu chuyện và tự sự về nguồn gốc của câu chuyện. Ba chương ở giữa là cốt lõi của tiểu thuyết được viết ở dạng ba quyển sổ ghi chép. Như vậy ba chương ở giữa là tự sự lồng trong tự sự (chương đầu và cuối), mà điểm kết nối là bà chủ quán rượu, một người tình của Oba, và là người đưa ba quyển sổ ghi chép cho nhà văn. Ba chương ở giữa được xây dựng trên ba bức ảnh, xét theo trình tự thời gian, là diễn biến tuyến tính. Nhưng nếu phá bỏ kết cấu thời gian, đấy sẽ là ba cách tiếp cận cuộc sống con người của nhân vật tiểu thuyết. Cách đầu là cách tiếp cận bằng hình ảnh của một con người ngoan ngoãn. Cách thứ hai là cách tiếp cận kiểu quái. Ở cách cuối cùng là đồi phế. Có thể xem như đấy là ba chân vạc của cõi người. Cấu trúc như vậy sẽ phủ khắp các phổ của nhân sinh, làm nổi bật tính hiện sinh của tác phẩm. Con số ba là một con số ma quái. Nhiều hơn ba sẽ là một nhàm chán. Thực sự, tôi không rõ con số ba có ý nghĩa mỹ học gì không, nhưng giả sử không phải là ba quyển sổ ghi chép mà là năm quyển sổ ghi chép thì điều gì sẽ xảy ra? Mỹ học của năm quyển sổ hẳn phải khác với mỹ học của ba quyển sổ. Song có lẽ cuộc đời của một con người cũng không nên thử nghiệm một điều gì đó quá ba lần.

3. Quái

Ba cách tiếp cận cuộc sống con người của Oba chính là ba dạng biến hóa của một cá nhân. Quái (obake) là một thể loại yêu quái trong văn hóa dân gian Nhật Bản để chỉ loài có khả năng biến hóa, tồn tại tạm thời trong một hình dạng nhất định. Quái là từ mà một người bạn của Oba thốt lên khi xem bức chân dung tự họa của van Gogh. Từ vừa được thốt lên này đã chấn động Oba. Không phải chỉ vì Oba cũng có bức chân dung tự họa quái như thế, mà vì chính tâm hồn thực sự che dấu bấy lâu nay của Oba như được sổng ra. Nói như vậy, không có nghĩa Oba là một con quái đội lốt người, hay quái ở trong người. Oba là một con người thật sự, chỉ do sự mất định hướng và không đúng cách trước một cõi người không thể hiểu nổi, không thể cảm nhận nổi, không thể đồng hành nổi, không thể chấp nhận nổi mà những hình thức biến hóa để phù hợp với con người như một con quái đã xảy ra. "Cả cuộc đời tôi toàn là sỉ nhục. Tôi thậm chí không thể phỏng đoán được cần phải như thế nào để sống một cuộc sống của nhân gian", lời tự thú của Oba ngay từ những dòng đầu tiên trong quyển sổ ghi chép của mình. Đấy là cú hích khởi đầu cho những biến hóa, một quái hóa con người. Lần biến hóa đầu tiên, Oba là một người con ngoan ngoãn. Cậu bé dường như có nụ cười rất khả ái, nhưng hai tay lại nắm chặt. Cậu bé luôn che dấu những ý nghĩ thực sự của mình bởi vì không hiểu nổi thế giới xung quanh. Lần biến hóa thứ hai, với nỗi sợ con người và mong muốn không khác người, Oba cố trở thành một tên pha trò. Sau khi tâm hồn che dấu bấy lâu được sổng ra, Oba cố gắng tìm tới cuộc sống của một con người tiếp cận với thế giới xung quanh qua rượu và gái. "Tôi chẳng bao giờ nghĩ gái điếm như là con người hay thậm chí như là phụ nữ. Họ dường như giống như những người ngu đần hay điên rồ. Thế nhưng trong vòng tay của họ tôi cảm thấy an toàn tuyệt đối, tôi có thể ngủ ngon lành". Đấy chính là một hình thức biến hóa tiếp nhận một cộng đồng nhỏ (gái điếm) như một nhân gian, như thấy đấy là nơi chốn của mình, mình thuộc về nơi đấy, không cần phải che đậy hay giấu giếm, như ở cõi người trước đây. Kết thúc cuộc biến hóa lần thứ hai là một cú tự tử bất thành như một dấu hiệu cho thấy sự thất bại của một cố gắng thành nhân. Lần biến hóa cuối cùng là một chuỗi gắng gượng thành người, biến hóa như đồ thị của một hình sin, lúc lên đỉnh tưởng như yên ổn một cuộc sống con người bình thường, rồi ngay đấy lại thất bại xuống đáy, và kết quả là một phế nhân, một người "cả hạnh phúc lẫn bất hạnh đều không có". Tôi nhớ tới nhân vật Đại dương trong tiểu thuyết Solaris của Lem. Đại dương là một thực thể bí ẩn trong vũ trụ, tìm cách tiếp cận với con người, hóa thành những con người mà tâm trí của người được tiếp cận hướng tới. Ba lần tiếp cận con người của Đại dương là ba lần thất bại. Bản chất của Oba, không phải như Đại dương, một hình thức phi nhân, mà là một con người. Con người thất bại trở thành một phần tử của nhân gian - con người. Một thất cách ở cõi người. Một phế nhân như Oba cảm nhận sau ba lần biến hóa bất thành. Đấy là vấn đề về chủ thể con người.

4. Hiện sinh

Chủ nghĩa hiện sinh có nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh là tính độc nhất vô nhị của sự tồn tại phi lý của con người. Ngay từ những dòng đầu tiên trong quyển sổ ghi chép của mình, Oba đã viết: "Cả cuộc đời tôi toàn là sỉ nhục. Tôi thậm chí không thể phỏng đoán được cần phải như thế nào để sống một cuộc sống của nhân gian". Đấy chính là sự mất phương hướng, không xác định trước một nhân gian dường như phi lý và vô nghĩa. Ngay từ lúc còn nhỏ, Oba đã cảm thấy sự tồn tại của những thứ xung quanh dường như không phi lý thì vô nghĩa, chẳng hạn như Oba từng nghĩ như vậy về xe điện ngầm hay ăn uống. Cho đến tận cuối cùng của những dòng ghi chép, cảm tưởng của Oba về sự tồn tại của mình là "cả hạnh phúc lẫn bất hạnh đều không có". Đó là kết quả của các thái độ hiện sinh, một sự trống rỗng, vô nghĩa của sự tồn tại của cá nhân. Các biến hóa của Oba, xét trên khía cạnh hiện sinh, chính là trải nghiệm của một cá nhân con người không phù hợp với xã hội xung quanh. Ba cách biến hóa là ba giai đoạn trải nghiệm về sự phi lý của cuộc sống con người. Giai đoạn đầu là sự phi lý của những thứ tồn tại xung quanh, như một đối nghịch với sự tồn tại của cá nhân. Giai đoạn tiếp theo là nỗi sợ hãi con người và dẫn tới sự vô nghĩa của cuộc sống con người, mà kết quả là cú tự tử ở Kamakura. Giai đoạn cuối cùng là nỗ lực phản kháng cuối cùng của cá nhân trước sự tồn tại phi lý của cuộc sống của con người. Sự phản kháng đó tồn tại dưới hình thức sa đọa và trụy lạc. Nỗ lực phản kháng đó càng gia tăng thất vọng về nhân gian, mà kết quả tất yếu của chúng là một thất cách cõi người. Nhân gian trở thành địa ngục của con người. Kết cục của chuỗi trải nghiệm hiện sinh của Oba là một nhân gian vô nghĩa, chân lý của cõi người chỉ là "mọi thứ dần trôi qua". Dazai viết Nhân gian thất cách sau tác phẩm Người xa lạ của Camus 6 năm. Do vậy mà tôi nghĩ rằng Dazai đã chịu ảnh hưởng của Camus. Nếu ở Camus là câu văn bất hủ "Hôm nay mẹ tôi mất, hay hôm qua, tôi cũng không biết nữa" thì ở Dazai ta gặp lại cảm giác trống rỗng tương tự của Oba khi nghe tin người cha của mình mất: "Tôi đã đánh mất năng lực khổ đau".  Nhân gian thất cách không chỉ là một tiểu thuyết tư, nó đồng thời còn là một tiểu thuyết hiện sinh thực thụ. Như vậy đặc tính hiện sinh của tiểu thuyết vừa mang tính hư cấu của tiểu thuyết, vừa mang tính tự thuật của tác giả.

5. Những vấn đề khác

Nhân gian thất cách có thể gợi mở nhiều hướng tiếp cận khác mà tôi sẽ không đề cập tới. Chẳng hạn vai trò của người cha như thế nào đối với cuộc đời của Oba. Xung quanh Oba toàn phụ nữ, nhưng tuyệt nhiên hình ảnh của bà mẹ Oba hoàn toàn vắng bóng trong tiểu thuyết. Liệu những đặc điểm này có ảnh hưởng tâm sinh lý thế nào đến nhân vật Oba. Trên thực tế, bà mẹ của Dazai bệnh tật và Dazai lớn lên không được mẹ chăm sóc. Những người phụ nữ quanh Oba đều là những cá nhân, xét trên khía cạnh nào đấy, đều lỡ dở, và cũng là những dạng "thất cách" ở cõi người. Nỗi khủng hoảng về sự tồn tại của cá nhân con người đối lập với xã hội dường như là tinh thần của thời đại mang tính toàn cầu trong thời của Dazai. Ở Việt Nam, hiện tượng như vậy trong cùng thời điểm (thập niên 1940) không rõ nét lắm, nhưng có thể thấy chút gì đó ở Vũ Hoàng Chương (Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa / Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh) hay thậm chí là ở Nguyễn Tuân (Chiếc lư đồng mắt cua). Cách mạng tháng 8 đã thu hút năng lực của tất mọi người theo hướng khác. Vậy hiện nay, tinh thần của thời đại là gì và điều gì đang được phản ánh ở văn chương thế giới?

Phim: Nhân gian thất cách

Photobucket

Tôi thường thích xem các bộ phim được dựng từ các tác phẩm văn học. Điện ảnh là một cách đọc văn học. Xem phim là đọc (hay đọc lại) tác phẩm văn học qua thẩm mỹ của những người làm phim. Nhân gian thất cách (Ningen Shikkaku) là bộ phim được dựng từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Dazai Osamu, do đạo diễn Arato Genjiro dàn dựng. Tôi chưa từng xem một bộ phim nào khác của đạo diễn Arato. Bộ phim được làm nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Dazai Osamu, nhưng không nằm trong số ba bộ phim kỷ niệm sinh nhật bách tuế của Dazai Osamu. Trên một phương diện nhất định, bộ phim Nhân gian thất cách có những nội dung trùng với bộ phim Vợ gã Villon, bởi vì cả hai đều khai thác nội dung của tiểu thuyết Nhân gian thất cách. Bộ phim Nhân gian thất cách bám khá chặt vào tiểu thuyết và không đưa thêm các nội dung khác từ các tác phẩm văn học khác của Dazai Osamu như bộ phim Vợ gã Villon.

Chiếc đĩa hát với bản Ave Maria nhẹ nhàng và một người đang ngủ ngục trên bàn ở một tiệm rượu mở đầu cho bộ phim như muốn nói rằng câu chuyện của phim như là trong một giấc mộng. Cảnh phim hội tụ vào một bức ảnh cũ, có một cậu bé duy nhất ở giữa ảnh và giữa những cô gái. Cậu bé hơi mỉm cười, nhưng hai tay nắm chặt. Đấy là chi tiết trong nguyên bản tiểu thuyết: Một người đang cười không thể hai tay nắm chặt. Chi tiết rất nhỏ này nếu không đọc tiểu thuyết thì không thể nhận ra trong phim, tuy cảnh đó trong phim trôi đi rất chậm. Đấy không phải là nụ cười, chỉ là các nếp nhăn của da tạo ra hình vẻ của một nụ cười. Đấy là chi tiết đem lại cảm giác rằng cậu bé đang chịu đựng một điều gì đó khác thường. Đấy là mở đầu cho câu chuyện về một con người, một thất cách ở cõi người, một phế nhân trong cách nhìn của đa số nhân gian. "Thất cách" là từ có trong từ vựng của tiếng Việt, nhưng rất ít được sử dụng ở thời hiện đại. "Thất cách" là cách thức và yêu cầu không phù hợp với nhận thức phổ biến chung, và trong bất kỳ tình huống nào nó không đồng nghĩa với "thất lạc", một sự mất mát hay đánh mất. Đó chính là hiện sinh. Giống như trong tiểu thuyết, bộ phim là ba  đoạn nối tiếp kể về cuộc đời của một con người, từ nhỏ, lớn lên và đồi phế, tương ứng với ba quyển sổ ghi chép, tương ứng với ba bức ảnh. Một con người cố gắng trở thành con người như mọi người khác, nhưng đều không đạt được, không phù hợp với cõi người và thất bại. Cách sống của anh trở thành thất cách. Lúc nhỏ, để cảm thấy mình hòa nhập với bạn bè, anh vờ làm những trò có thể gây cười. Có một người bạn nhận ra. Người bạn đưa ra ba nhận xét mà hai trong số đó trở thành định mệnh của anh: được nhiều phụ nữ yêu, là một thứ quái vật (obake), tương lai là một họa sĩ vĩ đại. Đoạn hai và đoạn ba là tiến triển của câu chuyện xoay quanh các chủ đề như vậy. Xung quanh anh lúc nào cũng có những người phụ nữ. Thậm chí có lần anh mong muốn được tới một nơi không có phụ nữ. Nhưng những ước vọng như vậy đều trở nên thất cách. Thái độ hiện sinh trong một cõi con người.  Kết thúc bộ phim là kết thúc bản Ave Maria, và người ngủ ngục ở quán rượu tỉnh dậy, như vừa qua một giấc hoàng lương quái vật. Đó chính là anh, Oba Yozo, nhân vật chính của bộ phim. Bộ phim kết thúc với bức ảnh thứ ba, một người đàn ông không xác định được tuổi tác, không cười, một khuôn mặt không có sinh khí, không có gì để nhận thấy, và lời lẩm bẩm "Bản thân tôi bây giờ cả hạnh phúc lẫn bất hạnh đều không có. Chỉ đơn thuần là mọi thứ dần trôi qua".

Bộ phim Nhân gian thất cách bám rất sát tác phẩm văn học, ngoại trừ nhà thơ có thật ngoài đời, Nakahara Chuya, không có trong nguyên bản văn học, đã được đưa vào bộ phim. Vẫn có những đoạn mà tôi cho rằng đạo diễn đã xử lý không phù hợp. Đạo diễn đã cho nhân vật chính bạt tai người bạn khi người bạn nói đùa về cô em họ, để dẫn tới tai người bạn bị ù và nhân vật chính ngồi lấy ráy tai cho người bạn. Trong nguyên bản văn học, hai người chạy dưới mưa và vì nước vào tai nên tai người bạn bị ù. Nguyên bản văn học logic hơn, bởi vì tôi không hình dung được một con người như vậy, một người không nổi giận đùng đùng ngay cả khi nhìn thấy vợ mình bị cưỡng bức lại có thể nổi giận bạt tai người bạn. Cách xử lý trong bộ phim hoạt hình Nhân gian thất cách phù hợp với nguyên bản văn học. Hay như cách nhân vật chính lần đầu gặp người con gái bán bar trong một quán rượu là đoạn phim khác với nguyên bản văn học. Bộ phim hoạt hình Nhân gian thất cách cũng xử lý khác với nguyên bản văn học. Nhưng tôi thích cách xử lý trong bộ phim hoạt hình hơn. Nỗi sợ con người đã đưa nhân vật chính la cà ở các quán rượu, ở bộ phim hoạt hình, được xử lý thành nỗi sợ, chạy trốn mật vụ, ẩn nấp dưới váy phụ nữ. Sự yên bình khỏi nỗi sợ con người là đến với đàn bà.

Bộ phim có sự góp mặt của các diễn viên đang lên như Ikuta Toma, Ishihara Satomi, nhưng thật khó nhận xét về diễn xuất của họ trong phim. Nhân gian thất cách không phải là một bộ phim xuất sắc, nhưng là một cách đọc xem được về một tác phẩm văn học nổi tiếng, và về một nhà văn quái lạ của nền văn học Nhật Bản.  

Phim hoạt hình: Nhân gian thất cách

Photobucket

Nhân gian thất cách là bộ phim hoạt hình 4 tập nằm trong chùm phim Văn học xanh của Nhật Bản. Bộ phim được dựng theo tác phẩm cùng tên của Dazai Osamu.

Ở tập 1 của bộ phim, đoạn nhân vật chính ẩn nấp trốn mật vụ, khi xem tôi chợt nhận ra ý tưởng giống hệt một đoạn trong một tiểu thuyết nổi tiếng và cũng đã được dựng thành phim. Đoạn đó không giống với nguyên tác Nhân gian thất cách. Như vậy có thể nghĩ đạo diễn dựng phim hoạt hình đã lấy ý tưởng từ tác phẩm nổi tiếng vừa nói tới.

Giờ đây khi nghĩ về Nhân gian thất cách, tôi chợt hỏi liệu có bao nhiêu người có thể nhận thấy những đặc điểm mà tôi đã từng nhận thấy?

Phim: Vợ gã Villon

Photobucket

Năm 2009, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Dazai Osamu, điện ảnh Nhật Bản đã sản xuất ba bộ phim dựa trên các tác phẩm văn học của ông. Vợ gã Villon là một trong ba bộ phim đó.

Dazai Osamu được coi là một nhà văn nổi bật của văn đàn Nhật Bản thế kỷ 20 mặc dù tuổi đời của ông khá ngắn. Cuộc đời của ông thường đi kèm với phóng túng, hoang tàn, u ám và sa đọa như một nhân sinh quan riêng biệt của cá nhân ông, như một Nhật Bản hiện thực trước và sau Thế chiến. Là một tài năng xuất chúng ông đã để lại một số tác phẩm văn học giá trị và hiện đại cho đến tận hôm nay. Ông cũng để lại nhiều tăm tiếng về cuộc đời của cá nhân ông, cũng như cái chết của ông. Các tác phẩm văn học của ông vừa là tác phẩm văn học vừa như là tự truyện về chính bản thân ông, về cuộc đời của ông.

Vợ gã Villon nguyên là một truyện ngắn của Dazai. Villon là một nhà thơ Pháp cổ điển, đồng thời cũng là một tên trộm cắp lang thang. Lấy Villon làm tiêu đề Dazai muốn hàm ý câu chuyện viết về người vợ của một kẻ phóng túng và sa đọa. Truyện ngắn cũng chính là hình ảnh của cuộc đời của Dazai, về người vợ và gia đình nhỏ bé của ông. Đạo diễn Negishi Kichitaro đã dựng phim dựa trên truyện ngắn này. Hơn thế nữa, đạo diễn Negishi còn đưa thêm một phần từ truyện vừa Nhân gian thất cách của Dazai vào bộ phim. Nhân gian thất cách vừa là một tác phẩm văn học cũng vừa là tự truyện về cuộc đời của Dazai trong khám phá bản lai diện mục cái tôi của chính ông đầy trắc trở, u ám và bi kịch.

Thế nhưng bộ phim lại không kể về chính Dazai, hay nhân vật trong phim, thi sĩ Otani, được coi là hình ảnh của Dazai. Bộ phim kể về người vợ của Otani. Cái hay của bộ phim, qua chính hình ảnh của người vợ mà Otani - Dazai được lột tả một cách chân thực. Nữ diễn viên Matsu Takako đã nhập vai người vợ của Otani một cách xuất sắc, thể hiện một người phụ nữ Nhật Bản đầy nhân hậu, nhẫn nại, cam chịu, vị tha, yêu thương chồng bằng hết cả khả năng của mình mà cũng rất nghị lực và can trường. Xem phim tôi như thấy lại hình ảnh người phụ nữ kinh điển của Việt Nam. Có lẽ đó là hình ảnh chung của phụ nữ Á Đông.

Đạo diễn Negishi đã rất tài tình kết hợp Nhân gian thất cách với Vợ gã Villon. Cách xử lý trong phim khiến cốt truyện trở nên sâu sắc khai phá những tình thế chỉ lướt qua trong truyện ngắn Vợ gã Villon, như câu chuyện với chàng trai Okada, làm nổi bật đặc tính của các nhân vật trong phim. Từ Người đưa tiễn đến Vợ gã Villon điện ảnh Nhật Bản đã xoay quanh các chủ đề rất dung dị mà thẫm đẫm tình người. Kết thúc bộ phim là câu nói của người vợ: "Là người phi nhân tính cũng được, chỉ là hãy gắng sống, anh nhé!"