Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label docsach. Show all posts
Showing posts with label docsach. Show all posts

Sự trở về

Võ Phiến, nhà văn chống Cộng nổi tiếng, người được xếp đầu trong quyển Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng, đã có một cú trở về Hà Nội đầy ngoạn mục. Nhà sách Nhã Nam vừa xuất bản tập tùy bút Quê hương tôi, vốn là tập tùy bút Đất nước quê hương và một số bài tùy bút khác của Võ Phiến, dưới cái tên Tràng Thiên. Tràng Thiên được biết là một bút danh khác của Võ Phiến, nhưng không được biết rộng rãi trong công chúng. Tập Quê hương tôi này giấu rất giỏi vết tích của Võ Phiến, hầu như không thể nhận ra, trừ những ai đã từng đọc Võ Phiến. Lời tựa của Nguyễn Hiến Lê vốn có trong nguyên bản Đất nước quê hương, được Nhã Nam trích vào tay sách đầy dấu ba chấm: "Chúng ta gặp lại tài nhận xét tinh vi, miêu tả sắc bén (...). Mấy trang (...) tả cách nấu, rót và uống chè Huế làm ta liên tưởng đến Những chiếc ấm đất của Nguyễn Tuân: nghệ thuật không kém mà (...) có hương vị của quê hương hơn. Nhưng đoạn (...) tả một chủ quán ăn bình dân ở Cần Thơ, đọc mới thấy mê.". Mấy dấu ba chấm này có vẻ là câu khách hay biên tập bóp méo văn phong của Nguyễn Hiến Lê hơn là che giấu gốc tích Võ Phiến. Nguyên văn Nguyễn Hiến Lê viết: "Trong tập Đất nước quê hương này, chúng ta gặp lại tài nhận xét tinh vi, miêu tả sắc bén của ông trong tiểu thuyết. Mấy trang ông tả cách nấu, rót và uống chè Huế làm ta liên tưởng đến Những chiếc ấm đất của Nguyễn Tuân: nghệ thuật không kém mà lại dí dỏm hơn, nhẹ nhàng hơn, có hương vị của quê hương hơn. Nhưng đoạn ông tả một chủ quán ăn bình dân ở Cần Thơ, đọc mới thấy mê.". Nhã Nam cũng cho biết có in 100 bản đặc biệt có chữ ký của tác giả. Như vậy Võ Phiến hoàn toàn biết và ý thức được tập Quê hương tôi được Nhã Nam xuất bản ở Việt Nam.

Sự trở về của Võ Phiến không âm thầm nhưng cũng không ồn ào. Một đặc điểm rất lạ. Chưa thấy những tay chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng vung bút. Nhớ lại mấy năm trước, khi mấy tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu được xuất bản ở Sài Gòn, mấy chiến sĩ canh mặt trận văn hóa tư tưởng có ngay mấy bài đả phá. Lác đác đã thấy có những bài điểm sách giới thiệu về tập tùy bút Quê hương tôi này. Như vậy sự trở về không phải là âm thầm, không phải là "huyền hạc quy lai kỷ cá tri", chỉ chưa đến mức trống giong cờ mở ca khúc khải hoàn, và không biết có phải là một cuộc trở về lớn lao sau những bôn ba và thăng trầm của lịch sử. Hồi ký của Nguyễn Hiến Lê cho biết Võ Phiến, Vũ Hạnh từng cộng tác với nhau ở tạp chí Bách khoa. Sau những thăng trầm đấy, không biết, giả sử như họ gặp nhau thì câu đầu tiên họ nói với nhau là gì? Và có khi lịch sử vị tất đã có những cuộc gặp gỡ như thế. Phôi pha.

Tại sao lại có tên "Quê hương tôi"? Phải chăng đó là một chỉ dấu cho sự đầu hàng vô điều kiện của một kẻ chống Cộng phiêu bạt không quê hương khi đã xế bóng gần trời xa đất? Thương thay cũng một kiếp người / Sống nhờ hàng xứ chết chôn quê người. Không có một quê hương tôi!

PS:
Danh hiệu "nhà văn chống Cộng" của Võ Phiến không phải chỉ do quyển Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng phong. Trong tập Văn học miền Nam của Võ Phiến, chính Võ Phiến đã dẫn lại nhận định của Nguyễn Mộng Giác: "Sau hiệp định Genève, trào lưu văn học chống cộng phát triển mạnh mẽ ở Miền Nam Việt Nam, những ban chủ biên nòng cốt của các nhóm, các tạp chí hầu hết là phái nam. Nếu kể tên những cây bút quan trọng của giai đoạn này như Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan... chúng ta ít có nhà văn nữ nào hiện diện. Từ 1960 về sau, một lớp nhà văn trẻ xuất hiện trên các tạp chí Văn Nghệ, Thế Kỷ Hai Mươi, Khai Phóng, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Văn Học, Văn, Bách Khoa, và đa số đều là nhà văn nam: Dương Nghiễm Mậu, Lê Tất Điều, Thế Uyên, Nhật Tiến, Duyên Anh, Ngô Thế Vinh, Dương Kiền... vẫn là nam giới đóng vai chủ động.". Võ Phiến còn viết tiếp: "Trước 1954, bên này đánh nhau với bên cộng sản bằng bom đạn tơi bời mà không có một thành tích văn nghệ chống cộng. Trái lại, phải chờ tiếng súng ngưng lại, khi ta có lớp người từ phía bên cộng sản về, khi ấy mới có phong trào chống cộng trong văn nghệ. Và phong trào ấy chắc chắn là đặc điểm nổi bật nhất của thế hệ văn nghệ hãy gọi là trung niên, thế hệ trưởng thành trong kháng chiến mà khai bút sau ngày đình chiến."

[Lưu ý: Nguyễn Mộng Giác cũng đưa tên Võ Phiến lên đầu, lên trước Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo... Nếu có gọi Võ Phiến là tiên chỉ của nhóm nhà văn chống Cộng cũng chẳng sai chút nào. Không biết liệu mai sau có người sẽ viết về lịch sử văn học như thế này không: Trước năm 2010, văn chương hải ngoại chuyển lửa về quê không có một thành tích nào. Phải chờ đến khi xuất hiện các nhà sách không do nhà nước độc quyền khống chế như Nhã Nam, Phương Nam... các tác phẩm của các nhà văn chống Cộng mới được xuất bản. Lúc đầu là các tác phẩm về quê hương, đất nước, không có các yếu tố chống Cộng lộ diện, sau đấy là .... Ôi không biết giấc mộng năm nao "Có một ngày ta về lại cố đô / Lưỡi lê say máu rửa Tây Hồ / Trên cao chí sĩ giơ tay vẫy / Đại định Thăng Long một sắc cờ" có còn là giấc mơ hôm nay của những con người hôm xưa đấy?]

PPS:
Tôi không có ấn bản đặc biệt Quê hương tôi có chữ ký của Võ Phiến. Nhưng blogger Nhị Linh có. Theo blogger Nhị Linh, chữ ký của Võ Phiến là chữ ký tươi, không phải là chữ ký sao chụp. Ngoài ra, chữ ký của Võ Phiến không ở trang mặt như vị trí thông thường ký tặng sách, mà ở trang sau, nơi ghi thông tin về quyển sách, bản quyền.
 

Photobucket

Sa mạc

Tôi chưa bao giờ tới sa mạc. Tôi không biết sa mạc như thế nào. Tôi không biết những con người sinh sống ở sa mạc, nền văn hóa và văn minh của họ ra sao. Sa mạc có ấn tượng mạnh nhất với tôi là bộ phim Bệnh nhân người Anh. Cát, gió và mặt trời. Và âm nhạc.

Sa mạc cũng là tên một cuốn tiểu thuyết của Le Clezio. Đây là tác phẩm đầu tiên của Le Clezio mà tôi được đọc. Cũng thật là hay, nếu Ủy ban giải thưởng Nobel không trao giải về văn học cho Le Clezio thì tôi cũng không biết Le Clezio và có lẽ cũng không đọc Sa mạc. Đây là một ý nghĩa tích cực của giải thưởng Nobel: phát hiện tài năng. Người Việt có cái may mắn là có cơ hội được đọc Sa mạc trước những người chỉ biết đọc tiếng Anh. Tiểu thuyết Sa mạc từng được dịch ra tiếng Việt và xuất bản từ năm 1997, trong khi bản dịch tiếng Anh mãi tới tận năm 2009 mới có. Đầu năm 2010 bản dịch tiếng Việt của Sa mạc cũng được tái bản. Như vậy có thể thấy người Việt tiếp cận với nền văn học thế giới không hẳn đã là chậm hay tụt hậu, và trong trường hợp này với Le Clezio Việt Nam đã đi trước các nước trong khối Anh ngữ.

Sa mạc có cấu trúc của hai dòng tự sự. Hai dòng tự sự độc lập với nhau về nhân vật, nội dung nhưng thống nhất trong một chủ đề: sa mạc, con người của sa mạc, những con người xanh. Một dòng tự sự về những con người xanh của sa mạc
cuối cùng. Một dòng tự sự về sự trường tồn bất tận của những con người xanh sa mạc, hậu những con người xanh của sa mạc cuối cùng. Dòng tự sự thứ hai kết thúc với sự sinh nở ra một con người tiếp nối những con người xanh của sa mạc.Tiếp theo cũng là kết thúc của dòng tự sự đầu: những con người xanh cuối cùng của sa mạc, nỗi chiến bại và biến mất của họ. Đây là một cấu trúc rất lạ. Hai dòng tự sự chảy theo lối của mình, có thể đọc theo mỗi dòng chảy tự sự mà không tạo ra bất cứ một vấn đề gì. Một dòng chảy kết thúc lại tạo ra điểm khởi đầu như một vòng tròn bất tận. Nơi kết thúc của dòng chảy này cũng là nơi bắt đầu kết thúc của dòng chảy kia, là nơi cho biết dòng chảy đó kết thúc. Cũng là điểm kết thúc của tiểu thuyết. Dòng tự sự đầu kể về những cố gắng tuyệt vọng của những con người sa mạc chống lại sự xâm lăng của nền văn minh Thiên Chúa giáo. Sự thất bại và diệt vong của họ là điều có thể thấy trước. Dòng tự sự thứ hai là sức sống âm thầm mãnh liệt của nền văn hóa sa mạc bên dưới nền văn minh Thiên Chúa giáo đang ngự trị. Lối tự sự trong Sa mạc cũng đặc biệt. Không có nhiều nhân vật, nhiều sự kiện. Dường như rất chậm và mang tính thơ.

"Tự do thì vô cùng, nó bao la như mặt đất mênh mông, nó đẹp đẽ và nhẫn tâm như ánh sáng, nó dịu dàng như những con mắt của nước. Ngày ngày, vào rạng sáng, những con người tự do quay bước về phía nơi ăn chốn ở của họ, về miền Nam, nơi không còn ai khác biết sống. Ngày ngày, bằng những động tác quen thuộc, họ xóa sạch dấu vết ngọn lửa họ đã đốt lên, họ chôn phân của mình. Quay mặt về phía sa mạc, họ cầu nguyện không lời. Họ ra đi như trong một giấc mơ, họ biến mất."

Đấy là những dòng cuối cùng của Sa mạc.

Cấu trúc và lối tự sự của Sa mạc tạo ra khả năng khám phá rất thú vị về những con người của sa mạc, về những đặc điểm nhân văn ở một vùng đất đầy kỳ bí, và sức sống mãnh liệt của nó mà bấy lâu nay bị chìm lấp, bị tiêu diệt bởi nền văn minh đang ngự trị.
Bằng hai dòng tự sự độc lập với nhau, những con người của sa mạc được phác lộ ở những không gian và thời gian khác nhau, trong những tình thế nhân sinh khác nhau, bộc lộ những đặc điểm cốt tủy của họ mà chỉ trong những tình thế như vậy mới có thể nhận thấy. Sa mạc không phải là một motive quen thuộc về những con người cuối cùng khi bị nền văn minh phương Tây xâm chiếm. Sa mạc về những con người của sa mạc cuối cùng và hậu những con người sa mạc cuối cùng. Họ ra đi như trong một giấc mơ, họ biến mất. Nhưng Sa mạc đã khám phá ra họ, không phải như trong một giấc mơ, và trường tồn mãi mãi.  

Côn Luân của Phượng Ca

Cũng đã lâu rồi tôi không đọc các tiểu thuyết kiếm hiệp, nói theo ngôn ngữ giang hồ là không còn "luyện chưởng" nữa. Thực ra tôi cũng không đọc nhiều truyện kiếm hiệp, không biết cái thế giới võ lâm văn chương đấy giờ phát triển ra sao, thành tựu như thế nào, có những ngôi sao nào mới nổi. Kiến thức của tôi về văn chương kiếm hiệp vẫn chỉ quanh quẩn với Kim Dung, Cổ Long, nghe thêm tới Ôn Thụy An, Huỳnh Dị. Tôi cũng không định mua bộ Côn Luân của Phượng Ca, vì thoạt đầu nghĩ rằng mình chẳng biết cái tên Phượng Ca này là ai, có khi cũng chỉ như loại Ưu Đàm Hoa, tha về chật nhà, song nghĩ lại cũng đương rảnh rỗi, chưa biết đọc gì, sao không thử luyện một bộ xem sao. Nhìn bộ Côn Luân bảy quyển cũng hơi khiếp, song nghĩ rằng truyện chưởng đọc kiểu nào cũng được, từ đầu đến cuối, hay từ cuối lên đầu, đọc xen ngang, trước sau lộn xộn thế nào cũng được, nên cũng không ngại mua về một bộ.

Có lần tôi nghĩ về thi pháp tiểu thuyết kiếm hiệp. Tôi tóm lại bằng: phiêu lưu, trinh thám, kinh dị, lãng mạn, tự sự. Một bộ tiểu thuyết kiếm hiệp thường được kết cấu trên nền tảng của 5 yếu tố như vậy. Tiểu thuyết kiếm hiệp thường hay được xây dựng trên những chuyến đi, phiêu lưu của các nhân vật. Có thể là tầm sư học đạo, truy tìm kho báu, chiến tranh đưa đẩy ... Yếu tố trinh thám thể hiện rõ nhất trong các vụ án, các cuộc tranh giành trong võ lâm. Chữ "kinh dị" không được chuẩn lắm, ý tôi muốn nói đến những thứ vượt ra ngoài hiện thực, khiến ta phải kinh ngạc hay sững sờ.Truyện kiếm hiệp nào cũng phải có "kinh dị". Võ công là một đặc điểm của "kinh dị". Những kết cấu "kinh dị" có thể kể đến như vô chiêu thắng hữu chiêu, người kiếm hợp nhất, người sử kiếm, kiếm sử người ... Lãng mạn là những câu chuyện tình lồng ghép, anh hùng - mỹ nhân, tam giác tình yêu ...Tự sự là yếu tố khó phân biệt nhất trong tiểu thuyết kiếm hiệp.  Nhưng nếu coi tự sự là một chuỗi tiếp nối các chủ đề, motive, nội dung tạo ra cấu trúc logic, nhân quả của câu chuyện, thì sẽ thấy tại sao tiểu thuyết kiếm hiệp cần phải tiến triển như vậy, chẳng hạn, tại sao đến đây nhân vật này cần phải chết.  Bộ Côn Luân của Phượng Ca không có kết cấu trinh thám, không có những bí mật, mưu kế lồng móc vào nhau, trùng lớp, mà  thường phải đến cuối truyện những bí mật mới được giải tỏa. Côn Luân chỉ có phiêu lưu, kinh dị, lãng mạn và tự sự.

Côn Luân là tiểu thuyết kiếm hiệp truyền thống. Ở đây sẽ nảy sinh ra câu hỏi thế nào là truyền thống. Truyền thống được hiểu là cấu trúc tiểu thuyết thông thường như các tiểu thuyết kiếm hiệp đã định hình trong dòng văn học kiếm hiệp. Thật ra đọc Côn Luân sẽ thấy có những cấu trúc phảng phất như của Kim Dung. Chẳng hạn như trận chiến ở Hợp Châu có nét phảng phất trận chiến trong Thần điêu đại hiệp, đoạn luận về tranh vẽ trên quạt của Lương Văn Tĩnh phảng phất như Hoàng Dung luận bức tranh lụa ở Thái hồ trong Anh hùng xạ điêu, Trung Điều Ngũ Bảo có nét như Lục cốc đào tiên trong Tiếu ngạo giang hồ.

Phượng Ca có ý thức xây dựng cấu trúc tiểu thuyết trong Côn Luân. Trong Côn Luân tiền truyện, tên các chương là tên các điệu từ khúc. Nhưng tôi nhận thấy cấu trúc của các điệu từ khúc không phản ánh vào cấu trúc các chương của tiểu thuyết. Phượng Ca chỉ mượn tên các điệu từ khúc, lấy ý nghĩa các tên gọi này làm chủ đề cho các chương, chẳng hạn, chương cuối cùng trong Côn Luân tiền truyện, có tên là Mãn giang hồng, một điệu từ, nhưng cũng chỉ hàm ý chủ đề của một chương truyện về một trận chiến tàn khốc, tựa sông loang máu đỏ, như một bản hùng ca.

Điểm mới trong Côn Luân của Phượng Ca là đã đưa ra nền tảng toán học và thiên văn của võ công. Thực ra hai nền tảng này cũng đã xuất hiện trong các tiểu thuyết kiếm hiệp trước đây, nhưng đến Côn Luân chúng trở nên rõ nét, cơ bản và đặc sắc. Có lẽ đây là điểm thành công của Phượng Ca. Côn Luân đã thoát ra khỏi sự phân chia chính tà, địch ta như thường thấy trong các tiểu thuyết kiếm hiệp. Ở Côn Luân hành sự của các nhân vật không nhất thiết phải thế này, hay không phải thế này, mà chỉ hợp theo nghĩa dưới tác động của những thay đổi của bối cảnh xung quanh. Đấy là thân phận con người trong những giai đoạn biến động của lịch sử rất mỏng manh, dễ thương tổn, đầy bất trắc và khó đoán định.