Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label amnhac. Show all posts
Showing posts with label amnhac. Show all posts

Ngày phán xét



Đây là một bài hát trong bộ phim truyền hình nhiều tập của Hàn Quốc Bridal mask. Tôi bất ngờ khi nghe bài hát này. Một giọng nam cao trên nền hợp xướng như một bản hùng ca. Nền điện ảnh giải trí của Hàn Quốc đã đi rất xa. Chủ đề Ngày phán xét luôn giày vò nhân loại kể từ lúc Chúa ra đời. Đợi chờ Chúa tái xuất có vẻ là một kiểu vô vọng. Song ai có thể đứng ra phán xét? Nhân dân? Liệu có giống như câu chuyện về phán xét người đàn bà trong Kinh Thánh?  

Cập nhật:

Tôi tìm thấy bản dịch tiếng Việt cho bài hát này (4 câu đầu (phần hợp xướng) nguyên gốc tiếng Ý, các câu còn lại (đơn ca) là tiếng Hàn)

Hỡi những vị thần, hãy đến bên chúng tôi
Cùng với ánh sáng vĩnh cửu và tình nghĩa của người
Chúa trời không thể khoan dung
Chúa trời sẽ giáng tội các ngươi

Ngày ánh dương bừng sáng
Chiếu rọi từng tia nắng xuống mảnh đất này
Tia nắng khiến cơ thể mạnh mẽ
Giờ đây chúng ta cùng đứng lên
Không thể khoan dung thêm nữa
Xin bầu trời hãy mở rộng
Chiếu rọi tâm hồn tôi, chiếu rọi mảnh đất này
Chúng ta cùng đứng lên


Bích vân thiên, hoàng hoa địa


Bài "Bích vân thiên, hoàng hoa địa..." trong Tây sương ký qua diễn xướng của Việt kịch, Kinh kịch và Côn khúc. Có lẽ, Việt kịch dễ nghe và Kinh kịch khó nghe hơn cả.

Việt kịch


Kinh kịch


Côn khúc


Nếu em xa

Một chiếc lá ngô đồng rụng. Một mùa thu đã sang. Một bài hát chiều mưa.








Bài hát Cây thùy dương

Bài hát do Hợp xướng dân gian Ural trình bày

Bài hát này là một ca khúc rất nổi tiếng của Liên Xô do Rodygin viết nhạc trên lời thơ của Pilipenko. Nguyên gốc bài hát có tên là Cây thanh lương trà Ural (Уральская рябинушка).  Pябинушка là hình thức gọi thân mật trìu mến trong tiếng Nga. Không hiểu vì sao cây thanh lương trà trong tiếng Nga khi dịch lời bài hát sang tiếng Việt lại thành cây thùy dương. Không biết có phải do yếu tố âm nhạc nên ra thế. Thật ra có một số người đã dịch thanh lương trà từ tiếng Nga sang tiếng Việt thành thùy dương. Đây là cách dịch rất tùy tiện, vì thùy dương được dùng để dịch các loại cây ива thuộc chi liễu. Cây thanh lương trà đâu có mềm mại, lả lướt như cây thùy dương. Vẻ đẹp của phụ nữ Nga, khác với vẻ đẹp của phụ nữ Trung Quốc, không lấy sự mềm mại lả lướt như dương liễu làm chuẩn. Bài hát này được dịch sang tiếng Trung thành Sơn tra thụ, tức là Cây sơn trà. Đây cũng là một nhầm lẫn thú vị của người Trung Quốc. Xem bộ phim Tình yêu cây sơn trà của Trương Nghệ Mưu tôi mới biết bài hát này cũng khá thịnh hành ở Trung Quốc trước đây. Xem ra Ta và Tàu khá giống nhau, đều từng chịu ảnh hưởng tính lãng mạn melodrama của nghệ thuật Xô Viết.

Năm 1985, Rodygin là một trong ba chuyên gia  thẩm định âm nhạc, thẩm định một album nhạc của nhạc sĩ Novikov. Năm  1984 nhạc sĩ Novikov phát hành một album nhạc rock và album nhạc trở nên nổi tiếng. Ngay sau đấy album nhạc bị rơi vào tầm ngắm của Ban Tuyên huấn  Đảng Cộng sản Liên Xô và KGB. Novikov bị theo dõi và bị bắt. Rodygin và hai người khác đã ký vào một văn bản nói rằng tác giả của album âm nhạc này cần phải nếu không đưa vào nhà thương điên thì phải bỏ tù. Kết quả nhạc sĩ Novikov bị 10 năm lao cải. Sau đó chế độ Xô Viết  sụp đổ, năm 1990 Novikov được trả tự do vì không có chứng cứ phạm tội. Không rõ Rodygin có cảm thấy hối hận gì không, nhưng năm 1998 Rodygin được lựa chọn là công dân danh dự của thành phố Ekaterinburg. Cuộc đời và số phận của những con người không hẳn đã bằng phẳng, mà luôn có những bất trắc khó ngờ của lịch sử lạnh lùng và vô cảm.

Bản tiếng Việt

Bản tiếng Trung

Lời hát trong bộ phim Tình yêu cây sơn trà do Trương Nghệ Mưu đạo diễn

Bát Man tấn cống

Theo thông báo của Chính phủ, chương trình nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long có tiết mục tấu quốc nhạc theo nghi thức cung đình: "nhạc đăng đàn, nhạc múa “lục cúng hoa đăng”, nhạc “Bát man tấn cống”..." Có lẽ ban đầu trang web của Chính phủ viết thiếu dấu sắc thành "Bát Man tấn công", nhưng sau đó đã sửa lại. Tôi thấy chuyện chẳng có gì mà phải ầm ĩ.

"Bát Man tấn cống" là khúc nhạc nằm trong Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long tấu "Bát Man tấn cống" chẳng có bất cứ vấn đề gì, nhất là nó được tấu sau "Đăng đàn cung", "Lục cúng hoa đăng". "Bát Man tấn cống" là khúc nhạc vui vẻ, hân hoan, thái bình và thống nhất, chẳng có lý do gì mà cho rằng nó không phù hợp với lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Tên khúc nhạc có chữ "man" và có vẻ chữ này tạo ra dị ứng với một số người. Tôi cho rằng đấy chẳng qua chỉ là mặc cảm tự ti. "Bát Man tấn cống" cần phải hiểu đó chỉ là một cách dụng điển để đặt tên cho một khúc Nhã nhạc. Nó không có nghĩa là phải có đúng 8 tộc Man, hay 8 nước Man. Hơn nữa, "Bát Man tấn cống" là tên khúc nhạc cổ truyền, do đó phải giữ nguyên tên gọi như vậy. Ngoài ra, chữ "man" cũng chẳng xấu xa gì. Ngay tiếng Việt hiện đại vẫn gọi tộc người Dao là người Mán như Mán sơn đầu. Người Mán đâu có vì vậy mà phải mặc cảm mình là man di mọi rợ?

Bản "Bát Man tấn cống" của cải lương hay đàn ca tài tử lại là một bản ca vọng cổ. Nó không phải là bản "Bát Man tấn cống" không lời của Nhã nhạc.

Đây là bản "Bát Man tấn cống" của Nhã nhạc

BatManTanCong
BatManTanCong.wma
Hosted by eSnips

Đây là bản "Bát Man tấn cống" của đàn ca tài tử

Get this widget | Track details | eSnips Social DNA


Đây là bản ca "Bát Man tấn cống" của đàn ca tài tử


Cuối cùng em sẽ nói



Bài hát Cuối cùng em sẽ nói (А напоследок я скажу) do Valentina Ponomaryova thực hiện trong bộ phim Bản tình ca nghiệt ngã (diễn viên trong phim là Larisa Guzeeva)


Tứ tấu dây của Shostakovich




Bản tứ tấu dây số 8, đô thứ của Shostakovich. Tôi tìm nghe bản nhạc này vì đọc thấy Vollmann khen. Google ra cả một đống bài phân tích bản nhạc này. Tóm lại chỉ thấy có 2 điểm: mở đầu bằng motif DSCH và nhắc lại ở nhiều chỗ, bản nhạc như một cánh cung. Còn những đoạn nhạc trích dẫn trong bản nhạc, ý nghĩa này nọ, đọc thì biết vậy, chứ tôi nghe cũng không nhận ra. Khó chịu nhất là có người viện dẫn Lyotard hay Derrida để phân tích. Tôi thà không hiểu còn hơn.