Bài mới

Nhận xét mới

Showing posts with label linhtinh. Show all posts
Showing posts with label linhtinh. Show all posts

Sen hồ Tây

 photo dahoptan_zpsdcd0c908.jpg

Không lên hồ Tây ngắm sen nở là một quyết định sáng suốt. Nghĩ cũng tội cho thân phận hoa sen. Vẫn cứ phải tươi tắn khoe sắc bên những vai, những ngực, uốn éo tủm tỉm tạo dáng khoe tình. Bao giờ mùa thu mới tới để nghe tiếng mưa trên những tàu lá khô. "Lưu đắc khô hà thính vũ thanh", câu thơ của Lý Nghĩa Sơn, tôi biết từ thưở nhỏ, khi đọc Hồng lâu mộng. Lâm Đại Ngọc đã nhắc tới câu thơ.Không biết có phải câu thơ hợp với thể tạng của Lâm Đại Ngọc, nhưng thử hình dung nếu tác giả Hồng lâu mộng cho Tiết Bảo Thoa nhắc tới câu thơ thì sẽ như thế nào? Vị tất Hồng lâu mộng còn là một kỳ thư.

Tôi từng thử dịch bài thơ của Lý Nghĩa Sơn. Cũng lâu rồi. Lâu rồi không đọc Đường thi và không dịch Đường thi nữa. Bài thơ của Lý Nghĩa Sơn cũng kỳ lạ. Một mối tương tư, nhớ nhung bạn trai. Cảm giác như một tiếng nấc vỡ òa trên lá sen khô.

Ở đình họ Lạc nhớ nhung Thôi Ung, Thôi Cổn

Hiên nước trong xanh trúc mướt bờ
Xa xôi cách trở nhớ khôn vừa
Bóng thu bảng lảng chiều sương đổ
Còn mỗi sen tàn hóng tiếng mưa

Túc Lạc thị đình ký hoài Thôi Ung, Thôi Cổn

Trúc ổ vô trần thủy hạm thanh
Tương tư điều đệ cách trùng thành
Thu âm bất tản sương phi vãn
Lưu đắc khô hà thính vũ thanh
Lý Thương Ẩn

 

Bàn chân nổi giận

Tờ The New York Times đăng bài viết Những bàn chân nổi giận của Việt Nam của ông Tương Lai (nguyên bản tiếng Việt ở đây). Tôi không chắc chắn, nhưng hình như ông Tương Lai là người Việt đang ở Việt Nam thứ hai, sau ông Nguyễn Đan Quế, có bài viết trên mục op-ed (mục đối xã luận) của tờ The New York Times. Năm ngoái, ông Tương Lai cũng đã từng công bố một bài viết, cũng mang tên Bàn chân nổi giận, nhưng là một bài viết khác. Có lẽ, "bàn chân nổi giận" là một hình tượng ưa thích của ông Tương Lai. Hiện chưa rõ truyền thông chính thống có phản ứng gì không. 

Quảng cáo sách

Không bình luận chính trị thấy nhạt mồm, mà bình luận thì lại ngứa mồm. Thật nan giải! Buôn đất không thấy mấy ai hưởng ứng, nhưng vừa nhắc đến sách là thấy có bạn đọc bảo sẽ tìm mua sách. Tôi chợt nghĩ hay là mình chuyển sang quảng cáo sách. Có nhà sách nào thuê tôi quảng cáo sách không? Sách không ai mua không lấy tiền.

Qua chuyện này tôi muốn tìm hiểu hiệu quả của quảng cáo trên blog như thế nào. Làm thế nào đo được hiệu quả đấy? Google bắt đầu có dịch vụ quảng cáo tiếng Việt, họ đo bằng số lần click, tôi thử đăng ký để vừa thử nghiệm vừa tìm hiểu nhưng bị từ chối. Xem ra muốn làm quảng cáo cũng khó.

Thị dân

Nhân đang đọc cuốn Lời bộc bạch của một thị dân của Marai Sandor, tôi muốn tự hỏi thị dân Việt Nam như thế nào. Có lẽ Sống mòn của Nam Cao là truyện về thị dân. Chủ đề này tạm ghi ở đây, nghĩ sau.

Quan sát xung quanh tôi nhận thấy đặc điểm của thị dân Việt Nam:
- Cả năm không đọc sách. Nếu Mạnh tử từng nói rằng một ngày không đọc sách soi gương đã thấy mặt khó coi thì có thể nói rằng mặt mũi thị dân Việt Nam cực khó coi.
- Văn hóa chủ đạo là xem TV. Ngoài xem TV họ không còn một nguồn văn hóa nào khác.
- Cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt, thậm chí là buồn chán, rỉ mốc lên rêu, và thật khó lý giải sao lại có thể có những người có thể sống những cuộc sống như thế.

Viết thêm:
Định nghĩa thị dân Việt Nam thế này được không: nông dân sống ở thành thị?

 


Lặng lẽ và ồn ào

Hai vụ bắt người gần đây, vụ bắt ông Phạm Chí Dũng và vụ bắt ông Trương Duy Nhất dường như có những biểu hiện khác nhau. Vụ bắt ông Phạm Chí Dũng rất lặng lẽ, chỉ có báo Tuổi trẻ đăng một mẩu tin rất ngắn, đăng lên rồi rút xuống biên tập lại. Vụ bắt ông Trương Duy Nhất rất ồn ào, truyền thông đưa tin ngay lập tức. Vụ bắt ông Phạm Chí Dũng trong giới blogosphere chỉ có blog của nhà báo Hồ Thu Hồng là có đưa thông tin. Vụ bắt ông Trương Duy Nhất chưa thấy một blogger nào có thông tin gì, nhưng các trang trái phải trung dung thì lại bình luận rất sôi động, đặc biệt các trang có vẻ như là dư luận viên đưa những bình luận hướng tới định hướng thông tin mà trước đây hoàn toàn im lặng trong vụ bắt ông Phạm Chí Dũng. Cả ông Phạm Chí Dũng lẫn ông Trương Duy Nhất đều là những người mà dư luận cảm thấy rằng họ có mối quen biết với những nhân vật cao cấp nhất định, và hơn nữa dường như có những mối quan hệ nhất định với những cơ quan tình báo, an ninh quốc gia nếu không phải trong hiện tại thì cũng là trong quá khứ, nếu không phải là thông tin chính thức thì cũng là tin đồn dư luận. Những chỉ dấu khác nhau đó đối với những nhân vật có nền tảng tương đồng nói lên điều gì? Rõ ràng một vụ không muốn thu hút sự chú ý của công luận, vụ kia muốn công luận chú ý hay ít nhất là không thể muốn công luận không chú ý. Song có điểm, một lực lượng đông đảo dường như là dư luận viên tham gia thì ắt hẳn phải có sự liên kết chỉ đạo hay ít nhất là có một sự tương cầu nào đó, khác với một blogger duy nhất tuồn thông tin theo kiểu tin vỉa hè. Vụ ông Phạm Chí Dũng không thấy có thông tin cơ quan công an từng làm việc với ông trước khi bị bắt về chuyện viết lách, còn vụ ông Trương Duy Nhất thì chính ông Trương Duy Nhất từng cho biết trên blog của mình về chuyện từng được làm việc với cơ quan công an. Vụ ông Phạm Chí Dũng hậu cát, còn vụ ông Trương Duy Nhất chưa biết sẽ thế nào. Thông tin về vụ ông Trương Duy Nhất còn thiếu rất nhiều mảnh để có thể lắp thành một bức tranh ghép, song báo chí có thể khai thác thêm ở Viện Kiểm sát, mặc dù không nhiều, khác với vụ ông Phạm Chí Dũng tuy không có mảnh ghép thật nào nhưng những mảnh ghép luận từ thông tin ảo cũng đủ hình dung một bức tranh nhất định. Có khi phải chờ thông tin từ nhà báo Hồ Thu Hồng, bất kể là thật hay ảo để tạo thành những mảnh ghép. Có thể không thích nhà báo Hồ Thu Hồng, nhưng những thông tin của bà bất kể như thế nào đều có giá trị nhất định và hữu ích. Không biết nhà báo Hồ Thu Hồng, sau những sóng gió, có còn "trần gian" và "yêu quá đời này" nữa không? 

Xã Tắc có phải là tổ tiên người Việt?

Mấy hôm nay thiên hạ đang tranh cãi ầm ĩ về chuyện có nên xây cầu vượt qua đàn Xã Tắc. Ông Trần Lâm Biền nói rằng: "Đàn Xã Tắc là đàn gắn với Tổ tiên, gắn với trời đất. Giờ chúng ta dùng cây cầu cao hơn cả trời đất thì nước này lụi bại à?  Chỗ ấy là Đàn Xã Tắc để thờ trời đất, xây cây cầu cao hơn trời đất thì chúng ta sống hay chết?" Tôi không hiểu ông Trần Lâm Biền và những người nghĩ giống ông ta tư duy logic ở đâu, bởi vì bây giờ đàn Xã Tắc ở dưới đầy dẫy bể phốt của các nhà dân. Không biết các ông đấy nghĩ gì khi vô số bể cứt trên đầu tổ tiên, và chúng ta vẫn đang sống nhăn răng. Hay là ông Trần Lâm Biền và những người như ông cho rằng tổ tiên, trời đất ngửi được cứt, nhưng không ngửi được khói ô tô, chịu nằm dưới bao nhiêu giường của dân chúng, nhưng không chịu được dưới cái cầu vượt?

Song vấn đề không phải chỉ về logic như vậy. Câu hỏi của tôi là Xã Tắc là tổ tiên của người Việt hay người Trung Quốc? Tắc chính là kê. Ông Tắc chính là ông tổ trồng kê. Nông nghiệp nước ta là trồng lúa nước và các bằng chứng khảo cổ đều khẳng định điều này. Vậy ông Tắc có dây mơ rễ má gì với người Việt? Chẳng có dây mơ rễ má gì. Chẳng qua các triều đại vua chúa trước đây, bắt chước Trung Quốc, tế lễ ông Xã, ông Tắc, cũng giống như ở chùa thờ Phật, ở nhà thờ thờ ông Jesus. Nếu chỉ vì thờ tự mà nói bàn thờ Thích Ca hay Jesus là bàn thờ tổ tiên thì quả là vọng ngôn.

Tuy vậy đàn Xã Tắc gắn với sinh hoạt của một thời trong quá khứ. Nó chỉ có ý nghĩa lịch sử như vậy. Đàn Xã Tắc ở Hà Nội là di chỉ đàn Xã Tắc thời nhà Lý, đến thời nhà Nguyễn nó đã bị bỏ hoang, không được ngó ngàng tới nên dân mới tới ở, thành làng phố như ngày nay. Tôi cho rằng đàn Xã Tắc chỉ là một di chỉ để khảo cổ.   


Sợ lửa của Doãn Quốc Sỹ

Hồi học cấp II, bên cạnh những quyển sách như sách của Hứa Thuần Phỏng, tôi còn đọc một số sách khác, như Sợ lửa của Doãn Quốc Sỹ. Giờ đây không biết cuốn Sợ lửa lưu lạc nơi đâu, tôi không tìm thấy nó. Tôi vừa đọc Sợ lửa, vừa đọc Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Hồi đấy đọc thật là tạp, nhưng không có Orwell để đọc. Mãi sau này khi đi du học tôi mới biết Orwell. Sợ lửa được xếp là chuyện cổ tích, giống như Trại súc vật là ngụ ngôn. Khi ở nước ngoài, biết tôi là người Bắc, có người hỏi tôi đã đọc Orwell chưa? Tôi thấy thật tội nghiệp cho người đặt câu hỏi đó. Khung cửa văn chương của họ chỉ gói gọn ở mỗi Orwell.

Sách của Hứa Thuần Phỏng

Hồi học phổ thông cấp II tôi có bộ sách của Hứa Thuần Phỏng. Hứa Thuần Phỏng tất nhiên là người Trung Quốc. Đây là bộ sách về hình học mà tôi rất thích. Tôi không thấy có bộ sách toán nào của tác giả người Việt hay như thế. Các sách của Lê Hải Châu hay Phan Đức Chính tôi không thích lắm.

Bài đầu tiên trong quyển Dựng hình của Hứa Thuần Phỏng là dựng một ngũ giác đều. Hứa Thuần Phỏng mào dẫn chuyện dựng hình ngũ giác đều rất loằng ngoằng. Ông viết, hàng tuần các em chào cờ, nhìn thấy một ngôi sao to và bốn ngôi sao nhỏ, các em có biết làm thế nào để vẽ được các ngôi sao đó? Hồi đó tinh thần chống Trung Quốc rất cao, nhưng chúng tôi sử dụng bộ sách của Hứa Thuần Phỏng chẳng thấy có vấn đề gì và cũng chẳng áy náy gì. Khi có được bản lãnh thì sử dụng tài liệu của ai cũng không quan trọng.

Không biết bây giờ học sinh phổ thông có còn đọc sách của Hứa Thuần Phỏng không?

Dâm thư

Bỏ 350 nghìn mua bộ ba 50 sắc thái do alphabooks dịch và xuất bản mới thấy đầu năm đã làm một chuyện phung phí vô tích sự. Nhưng quả thật tôi mua bộ truyện này cũng vì truyền thông quảng cáo cho nó và không khỏi có phần tò mò muốn biết truyện dâm đến mức độ nào và như thế nào. Còn có cái gì thuộc về con người mà hấp dẫn nữa đâu, nhưng lòng tò mò thì vẫn như thưở nào. Nghĩ cũng khôi hài cho truyền thông Việt Nam, Sợi xích của Lê Kiều Như thì xông vào ném đá tới tấp, nhưng 50 sắc thái thì lại được trân trọng giới thiệu. Thậm chí báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, nơi thường xuyên tu dưỡng đạo đức Cộng sản và được Bộ Chính trị và Ban chấp hành TW Đảng lãnh đạo và dẫn dắt, cũng có bài giới thiệu nhiệt thành bộ 50 sắc thái. Hay là cái dâm Việt thì cần phải phê phán, đánh cho tiệt nọc, còn cái dâm Tây thì cần được Đảng lãnh đạo soi sáng đường lối và định hướng cảm thụ điểm tinh túy của cái dâm? 

Thế hệ tôi biết đến dâm thư thật muộn mằn. Suốt thời học sinh chỉ biết Tây sương ký, Kim Bình Mai là dâm thư, mà đọc tới đọc lui vẫn không biết chúng dâm ở chỗ nào. Nghe cô giáo bình giảng Kiều, nhưng hỏi cô Vành ngoài bẩy chữ vành trong tám nghề là thế nào thì cô giáo chỉ nói đó là ám chỉ nghề nghiệp thanh lâu, thô tục, không cần hiểu cặn kẽ. Có muốn tra sách để biết bẩy chữ, tám nghề cũng chịu vì chẳng có sách nào giảng nghĩa cả. Mãi đến khi bức tường Berlin sụp đổ, khi qua Praha, những đứa bạn dẫn tôi đi xem phim Emmanuelle như một món quà văn minh khai phá cho đầu óc lạc hậu của tôi. Cách mạng nhung lụa không biết đã đem lại những gì cho tôi, nhưng chắc Emmanuelle là một thứ thật cụ thể mà tôi tận hưởng được từ cuộc cách mạng đó. So với thế hệ trẻ ngày nay thì thế hệ tôi quả là chậm phát triển. Cũng không biết đó là phúc hay họa, vui hay buồn, nhưng cuộc sống đã vốn dĩ như vậy, cũng chẳng thấy sao. Người xưa từng cảm hoài rằng Thập niên nhất giác Dương châu mộng / Doanh đắc thanh lâu bạc hạnh danh, Mười năm chợt tỉnh mơ Dương quận / Được tiếng lầu xanh kẻ bạc lòng. Bạc hạnh cũng chưa hẳn đã là một nỗi niềm không thể tự đắc trong cõi người.
     

Có thật có chuyện đào bới rễ sim ở Lạng Sơn bán sang Trung Quốc?

Tôi đặt câu hỏi về chuyện biên giới phía Bắc có cây sim không, và một bạn đọc cho tôi biết một bài báo viết về chuyện người dân ở Lạng Sơn đào rễ sim bán sang Trung Quốc. Tôi giở sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi ra tra thì không thấy nói gì về công dụng của rễ sim, chỉ nói về công dụng của quả và búp sim. Tuy nhiên, theo những lời truyền miệng trong dân gian, Trung Quốc rất thâm, nên chuyện thu mua rễ sim cũng chưa chắc đã vì vị thuốc. Hơn nữa, miền trung du phía Bắc, và miền Trung đầy sim, nếu Trung Quốc có thu mua thì chắc hẳn dân ta đã đào bới bán sạch, đâu phải chỉ riêng một tỉnh Lạng Sơn. Tôi thấy lạ, thử tra Google xem đầu dây mối nhợ như thế nào, và nhất là tìm ảnh xem người dân đào bới rễ cây gì, có đúng rễ sim không. Nhưng thật đáng tiếc, tôi không tìm thấy một bức ảnh nào để có thể nhận ra người dân đào bới rễ cây gì. Tra kỹ hơn thì tôi thấy đầu dây mối nhợ bắt nguồn từ báo Tiền Phong. Kỳ quái hơn, báo Tiền phong có 2 bài báo viết về chủ đề này mà bài sau lại xào lại từ chính bài trước, của cùng một tác giả Nguyễn Duy Chiến, nhưng đăng ở hai thời điểm khác nhau, cách nhau hơn cả năm trời, một bài đăng ngày 27/05/2011, bài kia đăng ngày 25/09/2012. Không lẽ suốt hơn cả năm trời người dân vẫn đào bới rễ sim mà chỉ ở một huyện của Lạng Sơn, không lan sang các vùng khác, nơi cây sim đầy rẫy? Tôi tra tiếp tục, lại thấy tiếp kỳ quái là chính truyền thông ở Lạng Sơn, Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Lạng Sơn, không có thông tin trực tiếp chuyện đào rễ sim, mà đăng lại bài viết của báo Tiền Phong. Thật là kỳ lạ!

Có bạn đọc nào có ảnh những đồi sim ở Lạng Sơn có thể cho tôi xem được không?

Biên giới phía Bắc có sim không?

Tôi chưa từng đi hết cả dọc biên giới phía Bắc, mới chỉ đến Lạng Sơn và cửa khẩu Hữu nghị. Ở Lạng Sơn tôi chưa từng nhìn thấy hoa sim. Không biết có phải tôi đến Lạng Sơn vào mùa đông, tiết lạnh nên không nhìn thấy hoa sim? Hoa sim nở vào mùa hè. Địa hình Lạng Sơn là núi, khó có thể có hoa sim. Nếu ở đó có thứ hoa màu tím gần giống thì đấy dễ là hoa mua. Hoa sim ở miền Bắc sẽ dễ hình dung hơn ở miền trung du, từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh, hơn là đổ lên mạn ngược, rừng núi Lạng Sơn. 

GS Ngô Bảo Châu bị thất sủng?

Theo thông tin của tờ Chất lượng Việt Nam, Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán học của GS Ngô Bảo Châu phải nhường chỗ quy hoạch cho hội chợ triển lãm. Đặc biệt, trong bản tin này có thêm một số ý kiến dèm pha chuyện phát triển ngành toán. Không biết đây có phải là chỉ dấu trừng phạt GS Ngô Bảo Châu tham gia ký vào bức thư lên tiếng về vụ em sinh viên Nguyễn Phương Uyên? 

Thực ra chuyện đất đai, GS Ngô Bảo Châu chẳng cần phải bận tâm. Chuyện đó để ông Lê Tuấn Hoa lo. Nếu GS Ngô Bảo Châu muốn chuyên tâm về toán học thì cứ chuyên tâm. Song nếu ông muốn quan tâm tới những vấn đề chính trị xã hội thì ông có thể quan tâm ở những vấn đề bao quát hơn là ở những vụ lẻ tẻ, dễ bị hố do những người được gọi là dissident ở Việt Nam cũng sử dụng những thủ đoạn nhập nhèm kinh khủng. Hiện giờ là thời điểm rất thuận lợi, ít khi có được, cho những ai quan tâm tới những vấn đề chính trị xã hội. Đó là chuyện về Hiến pháp. Nếu như GS Ngô Bảo Châu ra được một bản Hiến pháp làm đối trọng với bản Hiến pháp của chính quyền thì đấy là một điểm lớn trong lịch sử đương đại Việt Nam, chỉ sau bản Hiến pháp chưa bao giờ được thực thi của Hồ Chí Minh. Tất nhiên có thể nhìn thấy trước, trong tương lai ngắn hạn, bản Hiến pháp của GS Ngô Bảo Châu (tạm giả sử như vậy) cũng không được chấp nhận và thực thi, nhưng tương lai dài hạn thì rất có cơ. Một bản Hiến pháp đối trọng sẽ khuấy động tầm nhìn cao và xa của dân chúng, nhất là từ một người là thần tượng của dân chúng, bất kể bản Hiến pháp đó có được chính quyền chấp nhận hay không. Nếu GS Ngô Bảo Châu đơn thương độc mã ra bản Hiến pháp thì bản Hiến pháp đó dễ bị dìm hàng với luận điểm giỏi toán không đồng nghĩa giỏi mọi thứ. Nhưng nếu GS Ngô Bảo Châu tập hợp được các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài và trong nước hậu thuẫn thì bản Hiến pháp đó thật sự là một đối trọng nặng cân mà chính quyền ngay cả nếu muốn khuất mắt trông coi thì cũng rất khó khăn.

Nhưng điểm mấu chốt vẫn là GS Ngô Bảo Châu muốn làm một "trí thức cận thần" mong chờ sự ân sủng của chính quyền, một "trí thức trùm chăn" trốn mình trong tháp ngà, hay muốn là một "trí thức hành động" đem ánh sáng hòa cùng dân chúng, một thứ ánh sáng thật sự và hiện tại, không phải thứ ánh sáng hàn lâm, kinh viện hay sách vở với hy vọng mơ hồ ở tương lai? 

Ghi chú về chén "tham thì thâm"

Báo Thanh niên có bài viết về lai lịch chiếc chén cổ "tham thì thâm". Theo bài báo, tên "tham thì thâm" của chén do ông Vương Hồng Sển đặt. Loại chén này bên Trung Quốc gọi là "công đạo bôi" với ý nghĩa người biết đủ thì rượu còn, người tham thì rượu cạn. Nguyên lý hoạt động của chén là nguyên lý bình thông nhau. Loại chén này có từ thời nhà Minh, thịnh hành ở nhà Thanh. Ngày nay ở Trung Quốc vẫn còn sản xuất loại chén này.

Soros đến Việt Nam

Soros đến Việt Nam là một thông tin đáng quan tâm. Nếu chuyến viếng thăm Việt Nam này thuần túy là du lịch cá nhân thì chính quyền có thể thở phào nhẹ nhõm. Soros là một tay trùm tạo ra khủng khoảng tài chính cũng như thiết kế thay đổi chế độ hướng tới dân chủ. Tình hình Việt Nam hiện nay dường như đang ở mức lâm nguy cả về mặt tài chính cũng như chính trị, đặc biệt một lượng không nhỏ dân chúng đã không còn tin vào chính phủ và chế độ. Các sự kiện này nếu kết hợp với Soros thì có thể tạo ra một kịch bản hoàn mỹ. Nếu có một kịch bản thì năm 2013 sẽ là một năm có những biến động đáng kể đối với Việt Nam. Việt Nam hiện nay đang bước vào những năm cuối kết thúc một chu kỳ 70 năm, một triệu thay đổi. Tuy lịch sử là điều không thể tiên đoán được nhưng trước một năm mới sao lại không thử nhìn về phía trước chứ?

Đọc Kiều

Đàn bà dễ có mấy tay
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan
Dễ dàng là thói hồng nhan
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều
Nguyễn Du

Chết chắc

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu Đại học TPHCM kiểm tra thông tin "70% tiến sĩ không làm nghiên cứu khoa học". Thông tin này, theo tìm hiểu của tôi, là do GS Nguyễn Văn Tuấn đưa ra, nhưng chưa bao giờ thấy ông dẫn nguồn (có thể thấy thông tin gốc ở bài viết này trên trang web của ông), một điều hết sức kỳ quặc ở một người nghiên cứu khoa học.

Một đặc điểm của truyền thông Việt Nam là không bao giờ có khả năng xác định cũng như thẩm định tính chính xác của các nguồn tin liên quan tới khoa học. Đây không phải là lần đầu tiên. Trước đây truyền thông Việt Nam cũng đã dẫn các số liệu trong một báo cáo được gọi là của nhóm nghiên cứu ở Đại học Harvard về số lượng các công bố của các cơ quan nghiên cứu ở Việt Nam. Đặc điểm đó của truyền thông Việt Nam cũng dễ hiểu vì có thể nói đại đa số các nhà báo Việt Nam có thể tóm gọn trong hai chữ "thất học" nên họ không có khả năng cũng như năng lực xác định và thẩm định tính chính xác của nguồn tin. Hơn nữa, họ cũng không thể tham khảo ý kiến của các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực có liên quan tới nguồn tin, bởi vì họ không đủ trình độ cũng như khả năng để có thể phân biệt ai là chuyên gia thực sự, ai không phải.

Vô hiệu hóa trang Quanlambao bằng cách nào?

Trang Quanlambao đang là một hiện tượng kỳ quái, nếu không muốn nói là một quái thai, trong  lĩnh vực truyền thông của Việt Nam. Hiện tượng như vậy chỉ có thể xảy ra ở một nền truyền thông đã đánh mất uy tín và độ tin cậy trong dân chúng. Làm thế nào để vô hiệu hóa trang web đó? Dựng tường lửa, ngăn cản truy cập không những không phải là một biện pháp hữu hiệu, mà trái lại càng kích thích sự tò mò, cuốn hút và danh tiếng của trang web. Ngoài ra, dựng tường lửa còn tạo ra hiệu ứng phụ đối với các trang web bình thường khác, tăng cao sự bất mãn của những người sử dụng internet vào chính sách kiểm soát của nhà nước, và điểm này lại dẫn tới sự tán đồng của công chúng với những trang web quái dị đó.

Có 3 biện pháp có thể vô hiệu hóa trang Quanlambao:
 
1. Khôi phục lại uy tín, độ tin cậy của truyền thông chính thống. Uy tín, độ tin cậy của truyền thông chính thống chỉ có thể khôi phục lại được khi có sự kết hợp giữa cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan báo chí và cơ chế kiểm soát truyền thông chặt chẽ, minh bạch. Cần phải nghiêm cấm các cơ quan báo chí đưa tin theo kiểu thò thụt, đưa ra rồi lẳng lặng rút lại. Cách thức đưa tin như vậy là trái đại bác nã thẳng vào uy tín, độ tin cậy của truyền thông. Ví dụ như tờ Petro Times vừa rồi đưa tin sai về bắt ông Lý Xuân Hải, rồi lẳng lặng rút lại, khiến trang Quanlambao chớp được cơ hội đưa tin. Nếu chính quyền muốn khôi phục lại uy tín của truyền thông chính thống thì cần phải cách chức Tổng biên tập tờ Petro Times để làm gương. Còn nếu chính quyền muốn dân chúng tin vào những trang web như Quanlambao thì không cần phải làm gì cả.

2. Dùng thông tin để chế áp thông tin. Tăng cường luồng thông tin chính thống sẽ chế áp được những thông tin vỉa hè, đồn đại.

3. Cung cấp thông tin tràn ngập cho trang Quanlambao để tự nó không phân loại và xử lý được, dẫn tới tin sai, tin rởm và tự vô hiệu hóa mình. Rất có khả năng trang Quanlambao đã không xử lý được thông tin, nhầm lẫn Nguyễn Hùng Quang là Nguyễn Đăng Quang. Chỉ cần vài tin như thế là trang Quanlambao tự sập tiệm.

Cập nhật: ngày 26/8/2012:
Trang Infonet đưa tin Chủ tịch Masan Nguyễn Đăng Quang lên tiếng bác tin đồn bị bắt. Đây đúng là biện pháp thứ 2 kể trên. Coi bộ trang QLB không khác gì mấy cái trang chống Cộng của đám Bolsa, và cũng chỉ là một cái hố toilet.

Cập nhật: ngày 27/8/2012
Ông Nguyễn Đăng Quang, Chủ tịch tập đoàn Masan đã xuất hiện trước báo giới, đồng thời bà Nguyễn Thanh Phượng cũng đã xuất hiện ở nơi công cộng. Trên bình diện khác, ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch HĐQT Eximbank trả lời phỏng vấn đài RFI tiếng Việt. Biện pháp thứ 2 kể trên đã phát huy hiệu quả. Nhưng đây chỉ là biện pháp mang tính tức thời, không phải là biện pháp dài lâu. Biện pháp thứ nhất mới là biện pháp ổn định lâu dài.

Trình độ của đám chống Cộng Bolsa và những thể loại dissident ăn theo còn non lắm. Những kẻ đã khánh kiệt tư tưởng, sẵn sàng lừa dối, bịp bợm dư luận và hy sinh lợi ích của dân chúng, không thể có chỗ đứng dưới ánh mặt trời.

Liệu giờ đây đã có thể kết luận ai có trình độ tiếp nhận và xử lý thông tin như thế nào chưa? Bất kể thế nào những ồn ào của những ngày vừa qua đã có thể đóng lại.

Tỉnh mộng

Tôi không biết ông. Tên thật của ông nghe như là một bút danh. Lúc chưa biết, tôi cứ tưởng tên của ông là bút danh, cho đến khi tôi đọc được ở đâu đó, giờ không nhớ là ở đâu, ông than lúc viết không dùng bút danh nên cứ bị nghe loa phường réo tên mình chửi tác phẩm của mình. Chẳng biết có đúng không và cũng chẳng chắc là tôi nhớ có đọc được như vậy có đúng không. Nhưng tên của ông không nằm trong bảng phong thần Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Tôi mới đọc có một bộ tiểu thuyết trường thiên lịch sử của ông, về một giai đoạn đầy toan loạn của lịch sử, những giai đoạn mà tôi luôn muốn nhìn thấy những thân phận con người mong manh, đầy bất trắc trước những biến đổi khôn lường của lịch sử trong văn học. Tiểu thuyết của ông là bộ tiểu thuyết lớn nhất về giai đoạn lịch sử đó mà tôi được biết. Tôi mua bộ tiểu thuyết đó ở Hà Nội. Số phận cũng trớ trêu và kỳ lạ, ông viết bộ tiểu thuyết đó ở Việt Nam, rồi nó chu du sang Mỹ, và cuối cùng lại được xuất bản ở chính cái nơi mà ông đã bỏ ra đi. Tôi không biết xuất bản bộ tiểu thuyết đó có phải là một sự trở về, sự trở về lớn lao như Odysseus trở về Ithaca. Nhưng tôi tuyệt nhiên không nghe thấy một khúc ca khải hoàn nào của ngày trở về. Tôi từng tới nơi con sông trong bộ tiểu thuyết của ông, nhưng không vào mùa lũ và không nghe thấy những con sóng cuộn trào từ lịch sử. Người ta chỉ cho tôi đây là cái giếng, đây là cái cây từ mấy trăm năm trước, tuyệt nhiên, không phải để tôi sờ vào xem chúng có phải là cái cây, giếng nước của mấy trăm năm trước. Chúng đơn giản và vô hồn. Con sông trong tiểu thuyết của ông như chứa đựng những linh hồn lịch sử và tôi không thể nào có thể chứng kiến được những trang sách của ông và cái cây, giếng nước đấy cái nào sẽ trường tồn lâu hơn. Cuộc đời của một con người luôn ngắn ngủi, và ngắn hơn trang sách, cái cây và giếng nước. Ông còn có một bộ tiểu thuyết khác, cũng trường thiên và cũng về một giai đoạn đầy biến động của lịch sử. Tôi đã định mấy lần đọc nhưng đến nay vẫn chưa đọc được một dòng nào. Nhưng con sông, lại vẫn là con sông và tôi tin là có con sông trong bộ tiểu thuyết đấy, tôi từng tới nhiều lần, để khi nào tôi đọc tôi sẽ xem con sông trong trang sách của ông và con sông tôi từng tới chúng như thế nào.

Cuộc đời con người có phải như dòng sông, trôi đi và không bao giờ quay về nữa? Không phải, những giọt nước trong lòng sông đấy vẫn âm thầm bay lên và trở về nơi cội nguồn phát nguyên của dòng sông, bất kể biết bao nhiêu thác ghềnh và những khúc quanh.
    

Đọc lại bài viết cũ

Một bạn đọc hỏi khiến tôi tìm lại bài viết cũ. Bài viết cách đây đã 4 năm đã hơn 50 chục mùa trăng. Giờ đọc lại và tự hỏi mình có bóng hình không và bóng hình của mình như thế nào? Có nỗi cô đơn nào không và nó ra sao? Có cái hạnh phúc của một kẻ vô danh, không cần lo tới hậu thế và lịch sử, hay ít nhất không cần phải bận tâm tới "thiên hạ hà nhân" của ba trăm năm sau. Cái hạnh phúc đấy có như cái hạnh phúc của những người lưu danh thiên cổ? Nhân sinh tự cổ thùy vô tử / Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Cái hạnh phúc trên những chiếc thẻ tre xanh đấy, cái hạnh phúc lúc nào cũng canh cánh trong lòng "bất tri tam bách" đấy, cái hạnh phúc lúc nào cũng phải "lưu thủ đan tâm" đấy, cái hạnh phúc đầy lo lắng về cái tương lai không có mặt mình ở đấy?

Những bóng người


Có ba con người trong lịch sử mà tôi chợt nhớ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Cao Bá Quát. Đó là những con người cô đơn. Nguyễn Trãi từng từ quan, đi ở ẩn, rồi lại ra làm quan, kết cục ba họ bị chém. Nguyễn Du từng hăm hở vào Nam với ý định phò Nguyễn Ánh, bị Tây Sơn bắt cầm tù, rồi đến khi làm quan cho Gia Long, lại luôn đa sầu mộng (Tri giao quái ngã đa sầu mộng), đến khi ốm không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ chân xem có lạnh không rồi đi chẳng trối trăng gì. Cao Bá Quát từng làm quan, bị đi tù vì sửa bài thi, rồi lại làm quan, rồi lại làm phản, cuối cùng dòng họ cũng bị chém vạ lây. 

Không rõ vì lý do gì Nguyễn Trãi đã từ quan rồi lại ra làm quan. Có thể nghĩ rằng ông chửa chót đời. Cũng có thể cho rằng vì ông "Bui một tấc lòng ưu ái cũ / Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông". Nhưng cái cô đơn của ông là cái cô đơn tê tái, không thể sẻ chia, không thể thổ lộ: "Kim cổ vô cùng giang mạc mạc / Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu / Quy lai độc bạng lan can tọa / Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu". Sông thì mênh mang, mà lá thì cứ tơi bời, một con người cô độc đến tận cùng với mối hận trong lòng như mảnh trăng lạnh lẽo treo giữa vòm trời biếc. Mỗi khi đọc thơ của Nguyễn Trãi, tôi cảm thấy như cả một cõi lòng đau đớn, dằn vặt, lẻ loi của một con người.

Cái cô đơn của Nguyễn Du không như của Nguyễn Trãi, "Bạch phát sa trung hiện / Ly hồng hải thượng văn", cái cô đơn của mái đầu bạc lầm lũi một mình giữa bãi cát như tiếng chim nhạn lẻ loi trên biển cả mênh mông, không có cái rối bời của lá, cái mênh mang của trời đất, cái nỗi hận trong lòng. Với ông tiếng đỗ vũ cũng chỉ đánh dấu hết một mùa xuân, để "hồn hề qui lai bi cố hương" sau khi "mỹ nhân du du cách cao tường". Có thể vì ông "Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc". Có những việc không còn tự chủ được nữa.

Cao Bá Quát có những câu thơ không thể tìm thấy ở Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du. "Xích nhật hành hà đạo / Thương sinh thán kỷ hồi", "Hà đương thế sự như hoa sự / Phong vũ giang san tận cải quan". Trong những con người của quá khứ xa xưa đấy, chỉ có mỗi Cao Bá Quát là hạ bút viết được "Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn / Mục Dã, Minh Đường hữu Võ Thang". Con đường của Cao Bá Quát đi là một con đường có điểm kết.

Còn có một con người nữa, cũng rất đặc biệt, nhưng tôi cảm thấy ông khôn quá, nên chẳng buồn nhắc tới tên ông. Ông có câu thơ "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao". Người ta bảo ông uyên thâm khôn xét, nhưng tôi luôn ngờ về tri hành hợp nhất nơi ông.