Bài mới

Nhận xét mới

mận tam hoa

mận tam hoa có tên khoa học là prunus salicina hay prunus triflora. đúng như tên gọi của nó, hoa của loài mận này mọc thành từng cụm gồm 3 bông hoa. nhưng tôi quan sát thấy vẫn có những cụm hoa có 5 bông hoa, không rõ có phải đó là hai cụm hoa mọc tại một chỗ và rụng mất một bông?

mận tam hoa trồng để lấy quả cho nên cây thường thấp và chia cành ngay từ gốc. vì vậy mận tam hoa không thích hợp để tụ tập dưới gốc cây ngắm hoa như anh đào.
ngày mai hứa hẹn bừng hương cỏ
tôi sẽ say nằm ngủ dưới hoa
đinh hùng
các giống cây prunus có ở việt nam, có giống nào có thể "say nằm ngủ dưới hoa"? cây mận tháng chín của brecht là giống mận gì? mận tam hoa trong tiếng đức là mận tầu (chinesische pflaume). mận châu âu là giống prunus domestica, hoa của giống mận này mọc thành cụm nhiều bông. nếu như brecht gặp gỡ người tình của mình vào tháng ba thì ở đó ngước nhìn lên có đến 3 thứ trắng, tam bạch, nhưng hoa trắng thì lại không thể biến mất lúc nào.
Vào một ngày tháng chín trăng xanh
Dưới tán cây mận non yên ắng
Anh ôm em, tình yêu mờ lặng
Trong vòng tay anh như giấc mộng ngọt ngào
Và trên chúng tôi bầu trời mùa hạ thanh tao
Có một đám mây khiến anh chăm chú
Trắng vô ngần và bên trên quần tụ
Nhưng khi anh ngước nhìn, ở đó lúc nào đâu







ngày xuân nói chuyện kỷ nguyên

gần đây truyền thông việt nam hàng ngày ra rả "kỷ nguyên vươn mình". vấn đề đặt ra là người việt sử dụng từ "kỷ nguyên" để chỉ một thời đại, một thời kỳ hay một khoảng thời gian có đúng không?

kỷ nguyên là một từ hán việt, thành ra rất dễ tra chúng trong các từ điển chữ hán, hán việt và tiếng việt.
hán việt từ điển của đào duy anh giải nghĩa: kỷ nguyên 紀元: cái tiêu chuẩn để tính năm. tàu và ta thường lấy năm mỗi ông vua lên ngôi làm kỷ nguyên; các nước tây phương lấy năm gia tô giáng sinh làm kỷ nguyên.
việt nam tự điển của hội khai trí tiến đức giải nghĩa: kỷ nguyên 紀元: phép làm lịch lấy năm đầu của một triều đại hay một tôn giáo mà tính đi: khổng tử sinh trước tây lịch kỷ nguyên 551 năm.
hán ngữ đại từ điển của trung quốc cũng giải nghĩa: kỷ nguyên: năm bắt đầu để tính niên đại cho một thời đại lịch sử. lịch sử trung quốc, từ hán vũ đế lấy năm đầu tiên hoặc năm tiếp theo của vị vua lên ngôi là nguyên niên (năm đầu tiên) và lập niên hiệu kỷ nguyên.
như vậy các từ điển hán ngữ, hán việt đều thống nhất kỷ nguyên là năm đầu tiên, bắt đầu để tính một niên đại lịch sử, có nghĩa nó là một thời điểm, thời gian bắt đầu, mốc thời gian đầu của một thời đại, của một thời kỳ, của một khoảng thời gian trong lịch sử, chứ không phải mang ý nghĩa như một thời đại, một thời kỳ hay một khoảng thời gian trong lịch sử. thật ra từ "kỷ nguyên" là một từ ghép đơn giản, ý nghĩa rõ ràng, "nguyên" là đầu như "nguyên niên" là năm đầu, năm thứ nhất, "kỷ" là ghi chép như "kỷ niên" là ghi chép chuyện hàng năm, biên niên. thành ra chúng ta có thể thấy người trung quốc không bao giờ sử dụng từ "kỷ nguyên" để chỉ một thời đại, một thời kỳ hay một khoảng thời gian.
nhưng đến từ điển tiếng việt do hoàng phê chủ biên, "kỷ nguyên" được giải nghĩa như sau: thời kỳ lịch sử mở đầu bằng một sự kiện trọng đại có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển về sau của một xã hội hay của một lĩnh vực nào đó.
như vậy có thể thấy có một sự dịch chuyển ý nghĩa của từ "kỷ nguyên" từ một thời điểm bắt đầu sang ý nghĩa của một thời đại, thời kỳ lịch sử, mặc dù từ điển tiếng việt do hoàng phê chủ biên đã phải tính đến sự kiện trọng đại mở đầu. hiện tượng dịch chuyển ý nghĩa như vậy có thể giải thích như cao xuân hạo từng viết: "“lây nhiễm” (contaminated) ý nghĩa [...] – một hiện tượng khá phổ biến trong ngôn ngữ học lịch sử, mà nguồn gốc chủ yếu là những sự ngộ nhận của những người ít học (hay những người ngoại quốc chưa thông thạo thứ tiếng đang học)."
từ một thời điểm bắt đầu của một thời kỳ lịch sử, "kỷ nguyên" đã bị "lây nhiễm ý nghĩa" thành một thời kỳ lịch sử, một khoảng thời gian trong lịch sử, mà bản chất của sự dịch chuyển ý nghĩa đó không nằm ngoài "những sự ngộ nhận của những người ít học". đúng là một thời đại "nào có ra gì cái chữ nho" và sự lên ngôi của ít học và thất học.



Bảng từ Hán-Việt Việt Nam

Đây là bảng từ các từ Hán-Việt dùng cho các khái niệm, thuật ngữ có trong thư tịch chữ Hán của Việt Nam mà nghĩa gốc của từ Hán không có. Ví dụ từ hàm 鹹 trong các tự điển chữ Hán chỉ có nghĩa là vị mặn, không có nghĩa là mắm, trong khi trong thư tịch  chữ Hán của Việt Nam nó được dùng với nghĩa là mắm.

Bảng từ được bổ sung dần dần.

bàng (cây): sơn phong  

cà phê: dương trà 洋茶

gỗ giổi: lả mộc 㰁木 
gỗ lim: thiết mộc 鐵木 [gỗ lim thuộc chi Erythrophleum, trong khi thiết mộc trong tiếng Trung thuộc chi Ostrya]

hương hồn: 香魂 [linh hồn người chết (từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê), khác với hương hồn trong Hán ngữ là hồn của mỹ nhân (Hán ngữ đại từ điển). Hương hồn trong tiếng Việt là đối dịch của từ gandharva trong tiếng Phạn, một khái niệm trong Phật giáo]
hương linh: 香靈 [đối dịch của gandharva, x. hương hồn]

kỳ nam (cây): kỳ nam  𪻳

mắm: hàm 
mắm cá: ngư hàm 鹹  (hàm ngư 魚 là cá muối, cá mắm)
mắm muối: hàm diêm 
mắm rươi: đại hỏa hàm 
mắm tôm: hà hàm 
nước mắm: thủy hàm 鹹, hàm thủy 水, hải hàm 海鹹

rươi (con): đại hỏa trùng 火虫




  

Chuyện Chu Lệ Vương và bịt miệng

Chu Lệ vương (? - 828 TCN) bạo ngược kiêu ngạo, người trong nước đều chỉ trích vua. Thiệu công can gián nói: “Dân không chịu nổi chính lệnh nữa rồi”. Vua nổi giận, tìm được thầy mo nước Vệ, sai giám sát những kẻ chỉ trích, đem bẩm lại để giết. Người chỉ trích ít đi, chư hầu không tới chầu. Năm thứ ba mươi tư, vua ngày càng hà khắc, người trong nước không ai dám nói, đi đường chỉ dùng ánh mắt nhìn nhau. Lệ vương vui mừng, bảo Thiệu công rằng: “Ta có thể cấm tuyệt lời chỉ trích rồi, không ai dám nói nữa”. Thiệu công nói: “Ấy là bịt miệng vậy. Đề phòng miệng dân còn hơn phòng lũ. Đê ngăn mà vỡ, thương tổn ắt nhiều, dân cũng như vậy. Thế nên người trị thủy phải cho sông được khơi thông, người trị dân phải cho dân được bày tỏ. Vậy nên thiên tử xử lý chính sự, phải sai công khanh cho tới liệt sĩ dâng thơ, nhạc quan dâng khúc hát, sử quan dâng sách, thái sư dâng bài trâm, kẻ mù dâng bài phú, kẻ thong manh dâng bài tụng, trăm quan can gián, dân chúng truyền lời, cận thần khuyên nhủ, thân thích góp ý, nhạc – sử bảo ban, bô lão chỉnh sửa, rồi vua cân nhắc. Vậy nên chính sự thi hành mới không trái đạo. Dân có miệng cũng như đất có núi sông vậy, của cải từ ấy mà ra; cũng như đất có chỗ phẳng trũng cao thấp, cái ăn cái mặc từ ấy mà ra. Qua lời truyền miệng, thành bại từ ấy rõ rệt. Làm việc tốt, ngừa việc xấu, ấy là cách tạo ra của cải, ăn mặc vậy. Dân suy nghĩ trong lòng mà phát lời ở miệng, chín chắn rồi làm. Nếu bịt miệng họ, liệu được bao lâu?” Vua không nghe. Thế rồi cả nước chẳng ai dám nói lời nào, ba năm sau theo nhau tạo phản, tấn công Lệ vương. Lệ vương bỏ chạy đến đất Trệ.
(Sử ký của Tư Mã Thiên, Trần Quang Đức dịch)

Hoa phi hoa

Hoa phi hoa
Vụ phi vụ
Dạ bán lai
Thiên minh khứ
Lai như xuân mộng kỷ đa thời
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ

Bạch Cư Dị

Hoa đâu hoa 

Móc đâu móc
Đến nửa đêm
Đi trời mọc
Đến như xuân mộng được bao lâu
Đi tựa mây mai đâu chốn tróc


Bài từ này do Bạch Cư Dị tự sáng tác, và tên điệu từ được lấy từ câu đầu tiên. Phần nhạc khúc còn lưu lại trong Toái kim tục phổ. Bài từ này hiện nay còn có một số người khác viết phần nhạc, như Hoàng Tự, Hoàng Hữu Lệ, và cách thức diễn xướng có khác nhau. Clip dưới đây là do Vương Tác Hân hát theo nhạc của Hoàng Tự.


Còn diễn xướng theo nhạc phổ trong Toái kim tục phổ có thể nghe ở đây: http://cls.hs.yzu.edu.tw/mp3/ode/%AA%E1%ABD%AA%E1%A1%D0%A5%D5%A9~%A9%F6.MP3

花非花
霧非霧
夜半來
天明去
來如春夢幾多時
去似朝雲無覓處
  白居易

Haiku

 photo buom1_zps549c06dc.jpg

蝶とんで我身も塵のたぐひ哉
cho tonde waga mi mo chiri no tagui kana
Issa

Cánh bướm chập chờn
thân tôi
cũng là cát bụi


Gần như vào album

Gần như vào album (*)

Anh nghe thấy sấm sét và sẽ nhớ tới em
Sẽ nghĩ em đã ước mong giông tố...

Quầng mây trời sẽ sậm màu thm đỏ
Còn trái tim dường khi đó trong lửa cháy lòa

Điều đó sẽ xảy ra vào cái ngày Mạc--khoa
Khi em sẽ rời xa đô thành vĩnh viễn

Và tiến tới biên trời ước nguyện 
Giữa các người lưu lại bóng hình em 

Anna Akhmatova

(*) Bài thơ nằm trong chùm ba bài thơ Ba lá Mạc-tư-khoa.

Почти в альбом

Услышишь гром и вспомнишь обо мне,
Подумаешь: она грозы желала…
Полоска неба будет твердо-алой,
А сердце будет как тогда - в огне.


Случится это в тот московский день,
Когда я город навсегда покину
И устремлюсь к желанному притину,
Свою меж вас еще оставив тень.
Анна Ахматова