Bài mới

Nhận xét mới

Haiku trong Lối mòn miền Oku (6-10)

Bài 1-5

6. Kasane to wa yaenadeshiko no na narubeshi

Kasane cũng là
tên hoa cẩm chướng kép
hẳn là thế thôi


Kasane là tên một cô bé chạy theo con ngựa do Basho mượn của một người nông dân để đi qua cánh đồng cỏ. Basho cảm thấy tên cô bé rất đẹp. Kasane có nghĩa là kép. Bài haiku này được cho là do Sora, người đồng hành với Basho trong chuyến đi tới miền Oku, làm. Sora đã ví tên cô bé như hoa cẩm chướng cánh kép. Thực ra hoa cẩm chướng cánh kép không có (loại cẩm chướng này khác với loại cẩm chướng thông thường trong tiếng Việt). Bài haiku như một cảm nhận nhạy cảm của nhà thơ. Sao ở nơi thôn dã lại có một cái tên con gái đẹp như thế, không phải thế chứ, như hoa cẩm chướng cánh kép, có lẽ rất đẹp, nhưng mà có thật đâu.

7. natsu-yama ni ashida o ogamu kadode kana

Hạ sơn
bái lạy đôi guốc gỗ
lên đường


Hạ sơn có nghĩa là núi mùa hè, để chỉ các ngọn núi đang ở trong mùa hè ở Kurobane. Basho làm bài haiku này khi tới chùa Quang Minh (Komyo-ji). Trong chùa có đôi guốc gỗ của En no Gyoja, người lập ra ngôi chùa và môn phái Tu nghiệm (Shugen) ở đấy. Ở bài haiku này Basho và Sora không bái lễ tượng phật, mà lại bái lễ đôi guốc gỗ của Gyoja, như một ý nguyện sẽ bước theo những bước chân của Gyoja. Tôi chợt nhớ tới câu thơ của thiền sư Quảng Nghiêm "Nam nhi tự hữu xung thiên chí / Hưu hướng Như Lai hành xứ hành", làm trai tự có chí xông lên trời, đừng có bước theo những bước chân của Như Lai. Basho không đi tu, ông đang đi tới miền Oku, miền Bắc thẳm sâu, một chuyến du hành, như cuộc sống cũng vốn là một chuyến du hành.

8. tateyoko no
goshaku ni taranu
kusa no iori
musubu mo kuyashi
ame nakariseba

Cao rộng
chưa đầy năm thước
am cỏ
hối tiếc đã kết nên
trong mưa trú làm sao


Bài thơ này là một bài tanka của hòa thượng Butcho, người tu ở chùa Vân ngạn (Ungan-ji). Vân ngạn là bến mây, một cái tên rất đẹp, vừa như là nơi đỗ lại của mây, vừa như là một bến bờ tu hành cần phải sang. Ở đấy có một am cỏ bé nhỏ của hòa thượng. Butcho viết bài tanka này về cái am của ông.

9. kitsutsuki mo io wa yaburazu natsu kodachi

Ngay cả chim gõ kiến
không gõ chiếc am này
góc rừng hạ


Basho viết bài haiku này và treo trên cột gỗ nơi có chiếc am của hòa thượng Butcho. Ông gọi bài haiku là một "tức hứng", một cảm hứng chợt đến. Nơi đây rất tịch mịch, ngay cả tiếng gõ kiến cũng không nghe thấy. Tiếng chim gõ kiến gõ vào thân cây như tiếng gõ mõ. Nhưng ở am này, từ lâu rồi, tiếng gõ mõ đã không còn. Basho từng gặp Butcho và có lẽ Butcho là người đã hướng dẫn ông về thiền. Basho giờ tới đây, cảnh vật còn lại, nhưng người xưa không thấy, như tiếng gõ của chim gõ kiến cũng không còn nơi đây. Bài haiku là một cảm xúc ẩn giấu, chìm sâu trong cảnh vật và con người.

10. no o yoko ni uma hikimuke yo hototogisu

Băng qua đồng
dắt ngựa đi
tiếng cuốc kêu


Basho sáng tác bài haiku này khi người nông dân dắt ngựa cho ông xin ông làm cho một bài haiku. Yêu cầu của người nông phu đã khiến Basho thích thú ngạc nhiên. Những con người thôn dã như vậy cũng muốn thưởng thức haiku. Haiku cũng dung dị, bình thường như cánh đồng, dắt ngựa và tiếng cuốc kêu. Những viên gạch dựng nên bài haiku luôn ở sẵn quanh ta, chỉ có việc sắp đặt chúng trong một trật tự nghệ thuật. Nếu như mỗi lần dắt ngựa băng qua đồng và lắng nghe tiếng cuốc kêu thì đấy đã là một bài thơ, không cần phải sáng tác hay viết ra.


Hồ thu

Photobucket

Hồ mùa thu có vẻ đẹp riêng của nó. "Long lanh đáy nước in trời", "Làn thu thủy, nét xuân sơn". Một lần gặp, khó mà quên. Hồ thu tịch mịch và sâu thẳm như cõi lòng người.

Bài haiku khuyết danh:

mizuumi no migiwa sumigeri aki no mizu

và bản dịch của tôi:

Góc hồ
lắng trong
làn nước thu
Photobucket

Haiku trong Lối mòn miền Oku

Lối mòn miền Oku (Oku no hosomichi) là một tập du ký của Basho. Oku là tên miền đất ở phía Bắc nước Nhật, bao gồm vùng Mutsu và Dewa ngày nay, đọc theo âm Hán Việt là Áo [châu]. "Áo" là sâu xa. Vì nghĩa này mà một số bản dịch tiếng Anh đã dịch tên tập sách thành Narrow Road to the Deep North. Hosomichi là tế đạo, tức là đường đi nhỏ. Trong tập du ký này, ngoài những tản văn du ký, Basho còn ghi lại các bài haiku ông sáng tác trên đường đi. Tập sách đã được Vĩnh Sính dịch ra tiếng Việt với nhan đề Lối lên miền Oku. Vĩnh Sính dịch các bài haiku thành một câu lục bát (có thể đọc trên thi viện). Tiếng Anh có một số bản dịch khác nhau (có thể xem ở đây). Tôi thử dịch các bài haiku trong tập du ký này như cách tôi hiểu và cảm thụ chúng.

1. kusa no to mo sumikawaru yo zo hina no ie

Nhà tranh
Thay đổi chủ
Nhà bày tế nhân hình


Bài haiku này ở trong phần tựa của tập sách. Trước khi lên đường, Basho bán căn nhà của mình và chuyển đến ở với Sampu, một đệ tử của ông. Ông viết bài haiku này, một vế trong một bản renga có tám vế [nhưng nay đã thất truyền], và treo nó lên cột nhà. Hina-matsuri là ngày lễ ở Nhật Bản, vào mùng 3 tháng 3, được gọi là ngày lễ con gái. Ngày lễ này người ta bày các hình nhân, kiểu như búp bê, trên bàn tế lễ, gọi là "sồ đàn" (hina-dan).

Căn nhà tranh và các chủ nhân có thể thay đổi của nó là thế giới trần tục. Đàn tế nhân hình là thế giới thần linh. Chuyến du hành là một thay đổi. Nhưng sự thay đổi này cũng chẳng là một điều gì đó khác biệt, bởi vì trời đất cũng chỉ là quán trọ cho muôn vật mà thôi. Ý này được Basho viết ngay ở dòng đầu tiên, dẫn ý của Lý Bạch trong Xuân dạ yến đào lý viên tự: "Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ. Quang âm giả, bách đại chi quá khách", có nghĩa là: Ôi, trời đất là quán trọ của vạn vật. Ánh sáng và bóng tối là khách qua đường của trăm đời.

2. yuku haru ya tori naki uo no me wa namida

Mùa xuân ra đi
Chim nỉ non
Cá - mắt ngấn lệ


Bài haiku này là bài thơ khởi hành. Basho khởi hành đúng vào lúc mùa xuân sắp hết. Tiếng chim hót, mắt cá như ứa lệ, dường như là để tiễn biệt mùa xuân, mà cũng như là cảnh tiễn biệt nhà thơ. Bài haiku như hàm ý tới câu thơ của Đào Uyên Minh trong bài Quy điền viên cư: "Ki điểu luyến cựu lâm / Trì ngư tư cố uyên", chim trọ không dứt được rừng cũ, cá ao nhớ vực xưa. Chim, cá như đang lưu luyến mùa xuân, như cái tình cố cựu, như con người đang cất bước đi vào một chuyến du hành, tới miền bắc thẳm sâu.

3. ara touto aoba wakaba no hi no hikari

Ôi, tươi tắn
Những chiếc lá xanh, lá non
Trong ánh nắng


Bài haiku này Basho làm khi tới Nikko, đọc theo âm Hán Việt là Nhật quang, tức là ánh sáng mặt trời. Hi no hikari cũng là nhật [chi] quang. Lá xanh là chữ mùa [quý ngữ] hè, lá non là chữ mùa xuân. Xuân hạ giao nhau.

4. sori sutete kurokami yama ni koromogae

Xuống tóc
Hắc phát sơn
Đổi áo mặc


Bài haiku này không phải của Basho. Bài thơ do Sora, người đi theo Basho trong chuyến hành trình viết. Hắc phát sơn, có nghĩa là núi tóc đen, tức là Nam thể sơn (Nantai-san) ngày nay. Tôi có ảnh chụp ngọn núi này ở đây, nhưng tiếc là chưa leo được tới đỉnh. Bài haiku này là một sự liên tưởng. Núi Nantai vào mùa thu, hạ có đỉnh màu đen, do vậy mà có tên Hắc phát (kurokami). Đông xuân đỉnh núi bị tuyết phủ, trắng xóa. Nhà thơ nhìn đỉnh núi trắng xóa tưởng như một người cắt bỏ tóc, xuống tóc quy y. Sute là chữ "xả" của nhà Phật rất thâm sâu. Thời tiết chuyển sang mùa hè, và áo mặc cũng thay đổi.

5. shibaraku wa taki ni komoru ya ge no hajime

Chốc lát
Lồng thác nước
Chớm hè


Bài haiku này Basho làm ở Nikko. Thác nước này được Basho gọi là Urami (Lý kiến), và ngày nay vẫn mang tên như vậy. Urami có nghĩa là nhìn từ bên trong, bởi vì phía sau ngọn thác có chỗ lõm vào, có thể vào sau ngọn thác và ẩn mình trong đấy. Đấy cũng chính là ý của bài haiku. Thác nước như một cái lồng, và trong chốt lát ở trong đấy như một nghi lễ đón chào mùa hạ tới. Hay là thác nước mời gọi mùa hè tới.

Bài 6-10

Cỏ chè vè

Cỏ chè vè

Cỏ chè vè thuộc nhóm thu thất thảo, bảy loại rau cỏ của mùa thu. Tên khoa học của cỏ là Miscanthus sinensis. Người Nhật gọi tên cỏ là "bạc" hay "mang" (suzuki), còn người Trung Quốc gọi là "mang". Cỏ mọc thành bụi gọi là "bạc". "Bạc" này cũng có nghĩa là mỏng, nhạt. "Mang" là cỏ gai hay có tua ở đầu. Không rõ "chè vè" có xuất xứ từ đâu.

Bài haiku sau của Issa:

juugoya ya ame mi no susuki ominaeshi

và bản dịch của tôi:

Đêm trung thu
mưa thấy
cỏ chè vè và nữ lang hoa

Nữ lang hoa cũng là một loại cây cỏ thuộc nhóm thu thất thảo, có hoa vàng nở ở đầu ngọn. Đêm trung thu rất hiếm khi mưa. Một đời người không biết có mấy lần thấy mưa trong đêm trung thu. Vì mưa nên đêm trung thu không thấy có trăng, chỉ thấy cỏ chè vè và nữ lang hoa từng bụi. Mưa mùa thu đã là một nỗi buồn hiu hắt. Mưa trong đêm trung thu càng thêm quạnh hiu. Xung quanh chỉ thấy toàn cỏ chè vè và nữ lang hoa, lại càng thêm đìu hiu. cô đơn. Một đêm trung thu buồn mênh mang, trải khắp như mưa đang rơi,  cứ như là đang có ánh trăng bàng bạc rải nỗi buồn mênh mang giữa đêm. Bài haiku không có trăng, nhưng dường như lại như đang có trăng. Bài haiku không nói hiển ngôn về nỗi buồn, nỗi cô đơn hiu quạnh, nhưng nỗi buồn, nỗi cô đơn, hiu quạnh lại trải khắp các chữ trong bài. Haiku là như vậy. Bên dưới các chữ, tận thẳm sâu của con chữ là cảm nhận vi tế của thơ.
 

Cỏ chè vè


Nỗi buồn ba trăm năm

Trong tiểu thuyết Ignorance, Milan Kundera có nhắc tới một khổ thơ của Jan Skacel: Skacel miêu tả nỗi buồn quanh ông, ông muốn cầm nỗi buồn đấy trong tay mang tới một nơi nào đó thật xa và lấy nó tự dựng một ngôi nhà; ông muốn tự giam mình trong ngôi nhà đó suốt ba trăm năm, suốt ba trăm năm không mở cửa, không mở cửa cho bất kỳ ai.

Nỗi buồn của Skacel được Kundera dẫn chiếu về nỗi buồn chính trị. Skacel mất vào ngày 7 tháng 11 năm 1989. Mười ngày sau sinh viên, học sinh ở Praha biểu tình, mở đầu cho một kết thúc chính trị. Ba trăm năm của một nỗi buồn. Một cảm nhận không được chính xác? Ba trăm năm, không phải là một đời người, nhiều đời người, là một quãng thời gian xa thắm, không xác định được, không tiên liệu được, cũng như "tam bách dư niên hậu" của Nguyễn Du. Ba trăm năm của hoài vọng và vô vọng.

Tôi không biết Jan Skacel. Đến khi đọc Kundera mới biết tên ông, biết bài thơ về ngôi nhà làm bằng một nỗi buồn (tôi luôn nghĩ là một nỗi buồn, không phải nỗi buồn cũng như nhiều nỗi buồn), và đóng cửa suốt ba trăm năm. Tôi không thể nào hình dung được, nếu Skacel sống thêm hai mươi năm nữa, ông có còn tiếp tục giam mình trong ngôi nhà đấy nữa không. Một ngôi nhà làm bằng một nỗi buồn giữa những hân hoan xung quanh? Nhưng ông ở trong ngôi nhà đấy, không mở cửa thì làm sao mà biết được điều gì đã xảy ra xung quanh.
Skacel đã không chờ được cái ngày vô vọng của ba trăm năm đến.

Bài thơ của Skacel giản dị hơn nhiều. Tầng chính trị của bài thơ đã được Kundera sơn phết. Sơn phết lên những lý do "mang tính chất hiện sinh", "không thể thổ lộ" và "chỉ có thể nín lặng". Bài thơ của Skacel như sau:

je tolik smutku lze ho zdvíhat
na břehu moře vystavět
si z něho dům a neotvírat
kambalám dveře tři sta let

Bài thơ này tôi không dịch được. Nhưng smutky là nỗi buồn,
moře là biển cả, dům là ngôi nhà, neotvírat là không mở, dveře là cửa, tři sta let là ba trăm năm. Những từ có gốc Slavic.



Núi thu

Photobucket

Bài haiku sau của Issa:

aki no yama hitotsu hitotsu ni yuube kana

Bản dịch của tôi:

Núi thu
Mỗi quả núi
Mỗi chiều buông

Chiều thu trên núi trong cùng một dãy núi không giống nhau. Dường như mỗi quả núi có một chiều thu riêng biệt. Cùng là một buổi chiều, cùng là một dãy núi, nhưng mỗi nơi có một mùa thu.

Photobucket

Photobucket


Quả gai lửa

Gai lửa

Hoa gai lửa nở vào cuối xuân và đến mùa thu kết quả. Nhìn hoa gai lửa không thôi thì không thể nào hiểu nổi tại sao cây lại có tên như thế. Nhưng khi thấy cây gai lửa kết quả thì sẽ hiểu ngay lập tức cái tên của nó. Cả cây là một bụi quả đỏ rực như lửa. Cây gai lửa này có tên khoa học là Pyracantha coccinea.

Bài haiku sau của Shiki:

Tori naite akai ko-no-mi wa koboshikeri

và bản dịch của tôi:

Tiếng chim hót
Chùm quả đỏ
Rớt xuống

Đọc bài haiku này không hiểu sao tôi toàn hình dung về truyền thuyết tiếng chim hót trong bụi cây gai, mặc dù tôi không biết Nhật Bản có truyền thuyết tương tự như vậy không. Con chim cất lên tiếng hót cuối cùng để lao mình vào những chiếc gai nhọn. Những quả gai lửa rớt xuống. Không, không phải những quả gai lửa rớt xuống, mà là chính những giọt máu của con chim bị gai đâm đang rớt xuống. Tiếng chim hót, những giọt máu đào trong hình dạng của quả gai lửa quyện vào nhau trong một truyền thuyết kỳ lạ.

Tất nhiên bài haiku của Shiki không nhất thiết phải có ý nghĩa như thế. Nhưng chẳng có lý do gì mà tôi lại không thể liên tưởng tới truyền thuyết lạ kỳ kia. Haiku luôn là những câu thơ mở, khiến ta có thể khám phá ra những vẻ đẹp bất tận, mới lạ như chưa từng bao giờ có.

Gai lửa


"Khuê tảo" đâu chỉ là văn chương

Nhân đọc bài trên Thể thao & Văn hóa về GS Bùi Duy Tân, trong đó có nhắc tới hai chữ "khuê tảo". Có lần tôi đã đề cập tới chuyện này và không nhớ rõ ai là người phát hiện chuyện này đầu tiên. Vì vẫn còn băn khoăn về người phát hiện, nên tôi thử Google tra. Số tôi rất may là tìm ra bài viết "Khuê tảo" đâu chỉ là văn chương của Nguyễn Đăng Na. Bài viết của Nguyễn Đăng Na rất hay và giúp tôi không những hiểu rõ chuyện này mà còn hiểu chính xác hai chữ "khuê tảo": văn thơ thư họa của vua làm. Để chắc chắn tôi đã kiểm tra lại Hán ngữ từ điển trên mạng và nghĩa đúng như Nguyễn Đăng Na đã viết.

Tôi copy lại bài viết của Nguyễn Đăng Na để làm tư liệu (chữ tảo thiếu bộ thảo)

"Khuê tảo" đâu chỉ là văn chương

NGUYỄN ĐĂNG NA

Hoàng Việt thi văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích được khắc in năm Ất Dậu, niên hiệu Minh Mệnh thứ sáu 1825. Trong Quyển Một có bài của Lê Thánh Tông mà nhóm Lê Quý Đôn ([1]) đã dịch với nhan đề Ta ngồi trong Chính điện, hồi tưởng xưa nay vua sáng, tôi lành và cơ nghiệp thịnh vượng của nước nhà ngày nay ngẫu thành bài thơ. Sáu cụ trong nhóm Lê Quý Đôn dịch gồm: Lê Thước - người Lạc Thiên, La Sơn, Hà Tĩnh, đỗ Cử nhân năm 1918 lúc 28 tuổi; Hà Văn Đại - người Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đỗ Phó bảng năm 1919 lúc 27 tuổi; Trịnh Đình Rư - người Định Công, Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Cử nhân năm 1915 lúc 19 tuổi; Vũ Đình Liên - người Hải Dương, sinh 1913, nhà thơ, nhà nghiên cứu, dịch thuật. Còn hai cụ nữa chúng tôi chưa rõ tiểu sử. Đó là Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu. Bài thơ Ngẫu thành nói trên của Lê Thánh Tông trong đó có hai chữ khuê tảo [奎? 澡?] được nhiều người quan tâm. Nguyên văn bài thơ như sau:

Cao Đế anh hùng cái thế danh,

Văn Hoàng dũng trí phủ doanh thành.

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo,

Võ Mục hung trung liệt giáp binh.

Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển,

Nhị Thân phụ tử bội ân vinh.

Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự,

Bát bách Cơ Chu lạc trị bình.

Người đầu tiên giải thích hai chữ khuê tảo trong câu "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" có lẽ chính là Nhóm LQĐ. Các cụ viết: "Khuê tảo: quê hay khuê là sao khuê, tảo là cỏ tảo, tượng trưng cho văn chương" (Hoàng Việt thi văn tuyển, Sđd, tr. 22). Nhưng rồi, người ta dần dần quên mất cách dịch của Nhóm LQĐ. 35 năm sau, PGS. Bùi Duy Tân trong báo Văn nghệ số 33 (ngày 14-8-1993) nhắc lại cách dịch "khuê tảo" của Nhóm LQĐ. PGS. Bùi Duy Tân khẳng định cách giải thích khuê tảo của Nhóm LQĐ là "Khuê tảo: văn chương" (Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập một, Nxb Giáo dục, 1999, tr. 97). Trên cơ sở đó, PGS. Bùi Duy Tân nhắc nhở ít nhất hai lần:

- "Khuê tảo: chỉ văn chương. Nhiều từ điển lớn của Trung Quốc cũng giải nghĩa Khuê tảo có một nghĩa là văn chương, là thơ văn" (Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập hai, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr. 238).

- "Văn chương: dịch từ Khuê tảo... Khuê tảo: chỉ văn chương. Nhiều từ điển lớn của Trung Quốc cũng giải nghĩa Khuê tảo có một nghĩa là văn chương, là thơ văn. Nhân đây xin đính chính..." (Hợp tuyển Văn học trung đại Việt Nam (Thế kỷ X-XIX), Tập một, Nxb Giáo dục, 2004, tr. 517).

Cuối cùng, PGS. Bùi Duy Tân khẳng định vai trò dịch của Nhóm LQĐ: "Các vị túc nho quá cố trong nhóm dịch chú Hoàng Việt thi văn tuyển (sđd): Lê Thước - Hà Văn Đại - Trịnh Đình Rư - Nguyễn Sĩ Lâm - Trần Lê Hữu đã dịch đúng cả nghĩa và thơ" (Hợp tuyển..., tr. 517. Riêng tên cụ Vũ Đình Liên không có. Phải chăng PGS. Bùi Duy Tân bỏ sót ?). Thế là, hai chữ khuê tảo sau 50 năm đã trở về đúng vị trí trong bản dịch của Nhóm LQĐ: "Khuê tảo: tượng trưng cho văn chương".

Tuy nhiên, có hai chữ rất quan trọng khi Nhóm LQĐ dịch mà PGS. Bùi Duy Tân lại quên mất. Đó là hai chữ: tượng trưng! Các cụ rất thận trọng, dịch từng chữ: "Khuê tảo: tượng trưng cho văn chương". Theo chúng tôi, tượng trưng cho văn chương khác với đối tượng trực tiếp về văn chương. Thế thì, cứ theo chỉ dẫn của PGS. Bùi Duy Tân về "Từ điển lớn của Trung Quốc" xem có tìm thấy hai chữ khuê tảo có nghĩa là văn chương không?

Trước hết là Từ nguyên (Thương vụ Ấn thư quán, in năm 1938. Từ điển này dài 1830 trang nhưng không có từ mục Khuê tảo, mà chỉ có từ mục Khuê (tr. 393) và từ mục Tảo (tr. 1305). Từ điển thứ hai: Từ hải, in lần thứ hai năm 1989 (xuất bản lần đầu 1979), Thượng Hải từ thư xuất bản xã, dài tới 2216 trang (chữ rất nhỏ, khổ to, mỗi trang chia làm ba cột), vẫn chẳng có mục từ Khuê tảo nào cả, chỉ có từ mục Khuê (tr. 647) riêng và từ mục Tảo riêng (tr. 618).

Vậy thì, tìm từ điển lớn hơn nữa xem sao? Nhưng may, chúng tôi bỗng nhớ lại lời chú giải hai chữ Khuê tảo do Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam dịch và chú giải, in năm 1961 trong Lịch triều hiến chương loại chí. Tổ phiên dịch gồm năm cụ là: Nguyễn Trọng Hân, Trịnh Đình Rư, Cao Huy Giu, Trương Văn Chinh, Nguyễn Mạnh Duân và cụ thứ sáu hiệu đính là Đào Duy Anh. Phần Văn tịch chí có dịch Bài tựa Ngự chế về Quỳnh uyển cửu ca. Câu ấy như sau: "Thổ hồng nghê chi khí, quang khuê tảo chi văn". Các cụ dịch: "Nhả khí rực rỡ như cầu vồng, rạng vẻ sáng tươi của khuê tảo" ([2]); rồi chú: "Khuê tảo: văn chương của vua làm". Câu chú giải này cực kì quan trọng về nghĩa của hai chữ khuê tảo. Nhưng buồn thay, hầu như mọi người đã quên mất ý nghĩa của hai chữ khuê tảo và quên béng luôn cả tên nhóm dịch giả. Chúng tôi tiếp tục truy tìm loại từ điển "đại" lớn hơn loại "từ điển lớn". Lại may lần thứ hai: Hán ngữ đại từ điển Trung Hoa, có hẳn mục từ Khuê tảo. Soạn giả viết rõ: "Khuê tảo: chỉ đế vương thi văn thư hoạ" ([3]); nghĩa là, khuê tảo: chỉ thơ, văn, thư, hoạ của đế vương. Té ra, 48 năm trước, Tổ phiên dịch Viện Sử học đã nói rõ ràng và chuẩn: "Khuê tảo" là văn chương của vua làm. Và trước đó 51 năm, Nhóm LQĐ cũng đã cảm nhận đúng về "khuê tảo": tượng trưng cho văn chương. Khi dịch từng chữ, các cụ bao giờ cũng thận trọng, không bao giờ nói đại khái, càng không bao giờ bịa đặt. Chúng ta chẳng nên bỏ rơi, bỏ quên từng chữ dịch của các cụ (trong Nhóm LQĐ hoặc Tổ phiên dịch Viện sử học VN), khiến người đọc hiểu chưa đầy đủ tinh thần bản dịch.

Vậy là, khuê tảo chỉ văn chương của vua làm. Điều này không phải ngẫu nhiên mà Lê Thánh Tông hồi tưởng xưa nay vua sáng, tôi lành và cơ nghiệp thịnh vượng của nước nhà khi nhận xét Nguyễn Trãi: "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" và cũng không phải ngẫu nhiên mà vua Lê Thánh Tông có lời chú về Ức Trai ngay trong bài thơ đó: "Thừa chỉ Quan phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, đậu khoa bảng từ đời Hồ. Khi Thánh Tổ mới mở cơ nghiệp, theo về nơi Lỗi Giang, bên trong thì trù tính phương lược, bên ngoài thì thảo văn thư chiêu dụ các thành, văn chương giúp nước, rất được tín nhiệm" ([4]). Chính vì thế, Nguyễn Trãi mới thay mặt Thái Tổ Cao Hoàng Đế thảo dụ Quân trung từ mệnh và tuyên bố Bình Ngô đại cáo. Vĩ đại thay Ức Trai!


Trung Kính, Hà Nội, ngày 15 tháng Giêng, năm 2009

N . Đ . N


[1] Hoàng Việt thi văn tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích, tập III, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958, tr. 21.


[2] Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IV, Nxb Sử học, 1961. tr. 75.


[3] Hán ngữ đại từ điển, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, Tập một, tr. 3284.


[4] Hoàng Việt thi văn tuyển, Sđd, tr. 22.


Ngân hạnh

Ngân hạnh

Đàn bướm vàng - ngân hạnh - đã lại bay về. Mùa thu, cùng với cây phong, ngân hạnh cho lá vàng rực rỡ. Có loại phong cho lá vàng, có loại phong cho lá đỏ, còn ngân hạnh chỉ có một loại, cho lá vàng tuyền. Những chiếc lá như là hoa. Tên khoa học của ngân hạnh là Ginkgo biloba.

Bài haiku sau của Suzuki Michihiko:

tonaru ki mo nakute icho no ochiba kana

Bản dịch của tôi:

Bên cạnh không cây nào
Ngân hạnh
Những chiếc lá rơi rơi

Tôi chợt nhớ tới câu thơ của Đỗ Phủ: Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ. Những chiếc lá rơi xuống xao xác như không có giới hạn. Lại nhớ tới câu thơ của Nguyễn Trãi: anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu. Người anh hùng ôm hận trong tiếng lá xao xác. Ở bài haiku trên, không có âm thanh của những chiếc lá rơi. Một cây ngân hạnh cô độc. Chỉ có những chiếc lá rơi. Điểm ẩn giấu ở đấy là màu vàng của những chiếc lá. Những cánh bướm vàng lượn quanh cây ngân hạnh nơi những con bướm khác mỏi cánh đang đậu khắp cành. Cánh bướm luôn nhẹ nhàng, mỹ lệ (bay bướm) và do vậy không có âm thanh xao xác của lá. Không phải là một bức tranh tĩnh, là một bức tranh động, nhưng lại tuyệt đối tĩnh lặng. Và rất mỹ lệ. Là một mình giữa mùa thu. 

Ngân hạnh

Ngân hạnh