Bài mới

Nhận xét mới

Côn Luân của Phượng Ca

Cũng đã lâu rồi tôi không đọc các tiểu thuyết kiếm hiệp, nói theo ngôn ngữ giang hồ là không còn "luyện chưởng" nữa. Thực ra tôi cũng không đọc nhiều truyện kiếm hiệp, không biết cái thế giới võ lâm văn chương đấy giờ phát triển ra sao, thành tựu như thế nào, có những ngôi sao nào mới nổi. Kiến thức của tôi về văn chương kiếm hiệp vẫn chỉ quanh quẩn với Kim Dung, Cổ Long, nghe thêm tới Ôn Thụy An, Huỳnh Dị. Tôi cũng không định mua bộ Côn Luân của Phượng Ca, vì thoạt đầu nghĩ rằng mình chẳng biết cái tên Phượng Ca này là ai, có khi cũng chỉ như loại Ưu Đàm Hoa, tha về chật nhà, song nghĩ lại cũng đương rảnh rỗi, chưa biết đọc gì, sao không thử luyện một bộ xem sao. Nhìn bộ Côn Luân bảy quyển cũng hơi khiếp, song nghĩ rằng truyện chưởng đọc kiểu nào cũng được, từ đầu đến cuối, hay từ cuối lên đầu, đọc xen ngang, trước sau lộn xộn thế nào cũng được, nên cũng không ngại mua về một bộ.

Có lần tôi nghĩ về thi pháp tiểu thuyết kiếm hiệp. Tôi tóm lại bằng: phiêu lưu, trinh thám, kinh dị, lãng mạn, tự sự. Một bộ tiểu thuyết kiếm hiệp thường được kết cấu trên nền tảng của 5 yếu tố như vậy. Tiểu thuyết kiếm hiệp thường hay được xây dựng trên những chuyến đi, phiêu lưu của các nhân vật. Có thể là tầm sư học đạo, truy tìm kho báu, chiến tranh đưa đẩy ... Yếu tố trinh thám thể hiện rõ nhất trong các vụ án, các cuộc tranh giành trong võ lâm. Chữ "kinh dị" không được chuẩn lắm, ý tôi muốn nói đến những thứ vượt ra ngoài hiện thực, khiến ta phải kinh ngạc hay sững sờ.Truyện kiếm hiệp nào cũng phải có "kinh dị". Võ công là một đặc điểm của "kinh dị". Những kết cấu "kinh dị" có thể kể đến như vô chiêu thắng hữu chiêu, người kiếm hợp nhất, người sử kiếm, kiếm sử người ... Lãng mạn là những câu chuyện tình lồng ghép, anh hùng - mỹ nhân, tam giác tình yêu ...Tự sự là yếu tố khó phân biệt nhất trong tiểu thuyết kiếm hiệp.  Nhưng nếu coi tự sự là một chuỗi tiếp nối các chủ đề, motive, nội dung tạo ra cấu trúc logic, nhân quả của câu chuyện, thì sẽ thấy tại sao tiểu thuyết kiếm hiệp cần phải tiến triển như vậy, chẳng hạn, tại sao đến đây nhân vật này cần phải chết.  Bộ Côn Luân của Phượng Ca không có kết cấu trinh thám, không có những bí mật, mưu kế lồng móc vào nhau, trùng lớp, mà  thường phải đến cuối truyện những bí mật mới được giải tỏa. Côn Luân chỉ có phiêu lưu, kinh dị, lãng mạn và tự sự.

Côn Luân là tiểu thuyết kiếm hiệp truyền thống. Ở đây sẽ nảy sinh ra câu hỏi thế nào là truyền thống. Truyền thống được hiểu là cấu trúc tiểu thuyết thông thường như các tiểu thuyết kiếm hiệp đã định hình trong dòng văn học kiếm hiệp. Thật ra đọc Côn Luân sẽ thấy có những cấu trúc phảng phất như của Kim Dung. Chẳng hạn như trận chiến ở Hợp Châu có nét phảng phất trận chiến trong Thần điêu đại hiệp, đoạn luận về tranh vẽ trên quạt của Lương Văn Tĩnh phảng phất như Hoàng Dung luận bức tranh lụa ở Thái hồ trong Anh hùng xạ điêu, Trung Điều Ngũ Bảo có nét như Lục cốc đào tiên trong Tiếu ngạo giang hồ.

Phượng Ca có ý thức xây dựng cấu trúc tiểu thuyết trong Côn Luân. Trong Côn Luân tiền truyện, tên các chương là tên các điệu từ khúc. Nhưng tôi nhận thấy cấu trúc của các điệu từ khúc không phản ánh vào cấu trúc các chương của tiểu thuyết. Phượng Ca chỉ mượn tên các điệu từ khúc, lấy ý nghĩa các tên gọi này làm chủ đề cho các chương, chẳng hạn, chương cuối cùng trong Côn Luân tiền truyện, có tên là Mãn giang hồng, một điệu từ, nhưng cũng chỉ hàm ý chủ đề của một chương truyện về một trận chiến tàn khốc, tựa sông loang máu đỏ, như một bản hùng ca.

Điểm mới trong Côn Luân của Phượng Ca là đã đưa ra nền tảng toán học và thiên văn của võ công. Thực ra hai nền tảng này cũng đã xuất hiện trong các tiểu thuyết kiếm hiệp trước đây, nhưng đến Côn Luân chúng trở nên rõ nét, cơ bản và đặc sắc. Có lẽ đây là điểm thành công của Phượng Ca. Côn Luân đã thoát ra khỏi sự phân chia chính tà, địch ta như thường thấy trong các tiểu thuyết kiếm hiệp. Ở Côn Luân hành sự của các nhân vật không nhất thiết phải thế này, hay không phải thế này, mà chỉ hợp theo nghĩa dưới tác động của những thay đổi của bối cảnh xung quanh. Đấy là thân phận con người trong những giai đoạn biến động của lịch sử rất mỏng manh, dễ thương tổn, đầy bất trắc và khó đoán định.



Hoa lồng đèn

Hoa lồng đèn


Ở Việt Nam hoa này có tên gọi là "bụp lồng đèn". Tôi gọi đơn giản là hoa lồng đèn. Hình dạng bông hoa trông giống như một cái lồng đèn. Cây hoa này không phải là cây hoa bản địa ở Đông Á. Người Nhật gọi cây hoa này là "phù điếu mộc" (ukitsuriboku), có nghĩa là phao câu cá, có lẽ vì hình dạng của bông hoa trông giống như cái phao. Người Trung Quốc gọi cây hoa này là "đăng lung phong linh", có nghĩa là cái chuông gió hình lồng đèn. Tên khoa học của cây hoa là Abutilon megapotamicum.

Bài tanka sau của nhà sư Saigyo trong Tân cổ kim Hòa ca tập, bài số 299:

Even for one
who usually cares little
for things of the world
they stir the heart
first winds of autumn

Bài tanka này tôi lấy từ tập sách Basho journey, bản tiếng Anh, và dịch ra tiếng Việt như sau với hiệu chỉnh chút trật tự theo nguyên bản:

Với tất cả mọi thứ
Không còn quan tâm gì
Ngay với người như thế
Trái tim vẫn xao xuyến
Trận gió thu đầu mùa

Bài tanka này không có gì liên quan tới hoa lồng đèn. Tôi chỉ chợt nhớ trung thu sắp đến và những lồng đèn đỏ lại được treo khắp phố phường. Trận gió đầu tiên của mùa thu, cũng như cơn mưa đầu tiên của mùa hạ, những bông tuyết đầu tiên rơi xuống của mùa đông hay những bông hoa hé nở đầu tiên của mùa xuân luôn đem lại một cảm giác rung động xao xuyến của một mùa đang tới. Cái cảm giác đấy rất kỳ lạ và khó diễn tả, chỉ có thể cảm nhận, một chút mơ hồ về thay đổi đang tới. Ngay cả đối với người bàng quan, không thể không cảm thấy trận gió thu đầu mùa.


Hoa lồng đèn


Hoa bằng lăng

Bằng lăng

Tôi gọi hoa này là hoa bằng lăng, bởi vì cây hoa này cùng một chi với cây hoa bằng lăng ở Việt Nam. Tên khoa học của cây hoa là Lagerstroemia indica. Hoa bằng lăng ở Việt Nam thường là hoa tím, bông lớn. Còn hoa bằng lăng này có nhiều màu sắc khác nhau: hồng, tím và trắng. Người Nhật gọi hoa này là "bách nhật hồng" (sarusuberi), có nghĩa là bông hoa hồng cả một trăm ngày. Người Trung Quốc gọi hoa này là hoa tử vi. Quảng quần phương phổ cũng có nói hoa tử vi còn có tên gọi là bách nhật hồng. Như vậy người Nhật và người Trung Quốc đều gọi chung tên cây hoa bằng lăng. Tôi không biết "bằng lăng" có nghĩa là gì. Tên cây hoa này trong tiếng Anh là Crape myrtle.

Mizuhara Shuoshi có bài haiku sau:

asa-gumo no yue naku kanashi sarusuberi

Bản dịch của tôi:

Những đám mây buổi sáng
Vô cớ những nỗi buồn
Hoa bằng lăng

Có những nỗi buồn vô cớ, không thể biết được vì sao, nguyên nhân là gì. Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn. Những đám mây lúc bình minh, những bông bằng lăng, và nỗi buồn vô cớ. Có thể những đám mây đang bay giữa rạng đông là một nỗi buồn vô cớ. Có thể những bông bằng lăng đua nở, như những đám mây buổi sáng, là nỗi buồn vô cớ. Có thể nỗi buồn vô cớ của tôi là đám mây đang trôi giữa bầu trời của một ngày mới, là những bông bằng lăng đang khoe sắc trên cành. Có thể không phải là một cái cớ, mà là một cái vô cớ.


Bằng lăng


Hoa hòe

Hoa hòe

Đây là hoa hòe. Tên khoa học của cây hoa hòe này là Sophora japonica. Khi giới thiệu về dương hòe tôi đã không hiểu tại sao người Việt lại có thành ngữ "hoa hòe, hoa sói". Đến nay vẫn vậy. Hoa hòe tuyệt đối không lòe loẹt. Không biết có phải loại hoa hòe ở Việt Nam là loại hòe khác không. Hoa hòe nở vào mùa hè, gần giữa và cuối hè. Hoa dương hòe khá giống hoa hòe, nhưng tôi thấy hoa dương hòe nhìn hay hơn hoa hòe vì dương hòe tạo thành chùm khá đẹp. Cây hòe thường tương đối cao, ngắm hoa cũng không dễ.

Bạch Cư Dị có bài thơ sau:

祕省後廳
槐花雨潤新秋地
桐葉風翻欲夜天
盡日後廳無一事
白頭老監枕書眠
白居易

Tôi phiên âm và dịch như sau:

Bí tỉnh hậu sảnh

Hòe hoa vũ nhuận tân thu địa
Đồng diệp phong phiên dục dạ thiên
Tận nhật hậu sảnh vô nhất sự
Bạch đầu lão giám chẩm thư miên

Bạch Cư Dị

Hậu sảnh ở bí thư tỉnh

Hoa hòe mưa đẫm chớm thu hay
Gió lật cành ngô giục tối thay
Hậu sảnh hết ngày không việc nữa
Bạc đầu gối sách giấc nồng say

Hoa hòe


Cuối cùng em sẽ nói



Bài hát Cuối cùng em sẽ nói (А напоследок я скажу) do Valentina Ponomaryova thực hiện trong bộ phim Bản tình ca nghiệt ngã (diễn viên trong phim là Larisa Guzeeva)


Tứ tấu dây của Shostakovich




Bản tứ tấu dây số 8, đô thứ của Shostakovich. Tôi tìm nghe bản nhạc này vì đọc thấy Vollmann khen. Google ra cả một đống bài phân tích bản nhạc này. Tóm lại chỉ thấy có 2 điểm: mở đầu bằng motif DSCH và nhắc lại ở nhiều chỗ, bản nhạc như một cánh cung. Còn những đoạn nhạc trích dẫn trong bản nhạc, ý nghĩa này nọ, đọc thì biết vậy, chứ tôi nghe cũng không nhận ra. Khó chịu nhất là có người viện dẫn Lyotard hay Derrida để phân tích. Tôi thà không hiểu còn hơn.


Vollmann nói về Shostakovich

Tạp chí Văn học nước ngoài của Nga, số 5/2009 có giới thiệu về cuốn truyện "Châu Âu - đầu mối" của Vollmann (theo bài viết thì tên cuốn truyện "Europe Central" nếu dịch là "Trung Âu" thì không chuẩn, bởi vì châu Âu ở đây được nói tới như một nhà ga trung tâm, nơi các con đường giao nhau, là ngã ba đường của lịch sử châu Âu thế kỷ 20, bi kịch và nghiệt ngã). Trong bài viết có trích một đoạn trong bài phỏng vấn Vollmann trên báo Ведомости. Bài phỏng vấn có đoạn:

- Chính điểm gì trong số phận của Shostakovich làm anh cảm động?

- Khi còn trẻ, tôi rất thích lý tưởng cộng sản. Và cả bây giờ tôi vẫn thích, nhưng đáng tiếc, cố gắng thực hiện nó thường dẫn đến giết người. Tôi nghĩ, Shostakovich ban đầu tin tưởng chân thành vào các khẩu hiệu của Stalin, đại loại như "Sống trở nên tốt hơn, các đồng chí, sống trở nên vui hơn". Nhưng khi xảy ra tai nạn với "Bà Macbeth", và cuộc truy sát bắt đầu, ông chợt hiểu ra, mình đang ở mức nguy hiểm nào. Khi đấy cuộc sống của ông bắt đầu thay đổi. Bước ngoặt mới đã đến sau khi phát xít tấn công, khi đó Shostakovich, rõ ràng, quyết định tạm thời quên chế độ Stalin, và sát cánh cùng với đất nước mình. Nhưng sau chiến tranh, ảo tưởng của ông tan biến còn nhanh hơn. Ông cố gắng giữ những gì trinh nguyên trong lòng còn sót lại trong nghệ thuật của mình, nhưng trong đó đã bỏ lại tất cả những thứ khác cùng với già đi. Tôi thường xuyên tưởng tượng mình ở vị trí của ông: tôi sẽ làm gì nếu tôi là Shostakovich?. Tôi sẽ đầu hàng. Tôi thấy thương ông: ông buộc phải sống trong một tình thế mà để giữ mình trong sạch là điều không thể. Những người bình thường và cả những người tốt có lúc buộc phải đấu nhau trong quyền lợi của các chế độ bất nhân. Ý nghĩ này buộc tôi viết cuốn truyện với tất cả sức lực.

- Anh có cho rằng nghệ sĩ thỏa hiệp với chính quyền vẫn có thể tự do trong sáng tác?

- Tôi nghĩ rằng Shostakovich vẫn chân thực trong âm nhạc của mình. Khi tôi nghe, ví dụ bản Opus 110 hay bản giao hưởng số 8 thì tôi cảm thấy đấy là các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại nhất, chúng không đơn thuần trò chuyện với tôi, chúng thét vào tôi. Shostakovich đã trải qua những khoảng thời gian khủng khiếp và tố cáo chúng. Như vậy đối với tôi Shostakovich là một anh hùng.


- Theo anh, tại sao trong thời kỳ Stalin, mặc dù chịu áp lực nặng nề nhưng Shostakovich vẫn bật lại chế độ được, nhưng dưới thời Khrushchev khi áp lực đã đỡ hơn rất nhiều, ông lại vào Đảng và ký vào bức thư phản đối Sakharov?

- Có thể bởi vì Nina vợ ông mất và ông cảm thấy mình cô độc. Như tôi hiểu, bà luôn luôn đứng lên bảo vệ ông và nói "không". Mà đối với ông "không" rất phức tạp.  Ông có tính buồn cười như thế này - khi người ta yêu cầu ông, ví dụ, thay đổi gì đó trong bản nhạc, ông luôn trả lời: "Vâng, tất nhiên! Tôi nhất định sẽ đưa chúng vào bản giao hưởng sau của tôi" - và tất nhiên là ông chẳng bao giờ làm điều đó. 

[....]

- Ở nước Nga nhiều người tin rằng nền chuyên chính có lợi cho sáng tác, giúp đỡ các nghệ sĩ tập trung.

- Đúng vậy, một số tác phẩm nổi bật của Đông Âu mà tôi từng đọc, - các tiểu thuyết của Konwicki hay của Kundera thưở đầu từng thành công như vậy chính bởi vì đã được tạo ra trong những hoàn cảnh áp bức. Nhưng cuốn truyện cuối cùng của Konwicki, viết sau này, khi chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan đã đổ, không tạo ra ấn tượng cho tôi như trước, chẳng hạn như cuốn "Mộng thư đương thời". Bất kỳ sự kiện chấn thương nào cũng có thể được các nghệ sĩ sử dụng để tạo ra thứ gì đó rất rất  xúc động. "Kinh cầu hồn" của Akhmatova cũng là một trường ca rất can trường, mà thậm chí ngay bây giờ, chỉ qua bản dịch thôi cũng đã khiến tôi đổ lệ.

- Cuốn tiểu thuyết có tên là "Trung Âu", nhưng nó lại gần như chẳng hề đả động riêng tới Trung Âu: Hung, Ba Lan hay Tiệp.

- Tiểu thuyết viết về hai chế độ thù địch mà thậm chí có thể gọi là hai đế chế. Đế chế này muốn nuốt chửng đế chế kia. Nước Đức phát xít tuyên bố: "Ta là châu Âu, ta ở trung tâm thế giới, ta sẽ kiểm soát toàn bộ châu Âu, cả nước Nga trong đấy". Sau trận Stalingrad và Kursk Liên Xô trả lời: "Biết gì không? Ta sẽ đến châu Âu, và châu Âu sẽ trở thành vệ tinh của ta". Cả hai chế độ đều sử dụng từ "châu Âu", nhưng chính châu Âu lại buộc thành lãnh thổ phế bỏ. và mối đế chế chuẩn bị trở thành trung tâm của châu Âu, đẩy châu Âu ra lề.

- Tại sao trong tất cả các nhân vật của tiểu thuyết, cả Nga lẫn Đức, nhân vật chính anh lại chọn Shostakovich?

- Tôi nhìn thấy mình trong Shostakovich, ông rất gần gũi tôi. Tôi cũng là một người sáng tác và cũng ít nhiều lý tưởng giống như Shostakovich lúc ban đầu trên con đường của mình. Nỗi buồn của ông rất thân quen với tôi. Tôi không thường xuyên tới nước Nga, tất cả có hai lần, nhưng cả hai lần tôi đều cảm thấy thích thú và xao xuyến rất lớn. Và tôi rất muốn biết nước Nga tốt hơn. 

Hễ thu

Hễ thu

Tôi không biết gọi hoa này như thế nào. Người Nhật gọi là miso-hagi, đọc theo âm Hán Việt là "hễ thu". "Thu" là một loại lau lách, theo Thuyết văn. "Hễ" là một nghi thức cúng tế bên sông, vẩy nước trừ tà. Người Trung Quốc gọi cây hoa này là "thiên khuất thái". "Thái" là rau, "khuất" là cong, "thiên khuất" là rất cong. Tôi gọi hoa này là "hễ thu" hay misohagi, hay lau hagi. Có một loại hoa tên là hagi, sang tiếng Việt cũng gọi là hagi. Lau hagi nghe cũng không chối lắm. Tên khoa học của cây hoa là Lythrum anceps.

Issa có bài haiku sau:

miso-hagi ya mizuni tsukereba kaze no fuku

Tôi dịch như sau:

Lau hagi
Hoa hòa soi bóng nước
Gió lao xao

Một khung cảnh ven sông hay ven hồ, nơi lau hagi nở hoa. Gió khẽ làm các nhánh cây lau hagi lao xao, như hòa cùng bóng nước. Bức tranh rất mộc mạc, như lau hagi vốn thế, như bờ nước xưa nay vẫn vậy. 


Hễ thu