Bài mới

Nhận xét mới

Kim lộ mai

Photobucket

Hoa này có tên gọi là kim lộ mai (kin-ro-bai, theo cách đọc của người Nhật). Lộ là giọt móc, tức là giọt sương do hơi nước bám vào cây cỏ tạo thành, kim là vàng. Hoa mai sương vàng, có lẽ "vàng" bổ nghĩa cho "mai sương", bởi vì hoa có màu vàng. Tên khoa học của hoa là Potentilla fruticosa var. rigida, cùng một chi với cây dâu dại, do đó rất dễ lẫn hoa của chúng. Lá cây kim lộ mai thường là một cụm 5 lá, còn lá cây dâu dại là 3 lá. Quảng quần phương phổ có chép hai loại hoa mai vàng, một loại là kim mai, và loại kia là kim lũ mai. Kim lũ mai trong tiếng Nhật cũng gọi là kinrobai, do vậy cũng dễ lẫn kim lộ mai với kim lũ mai. Không rõ kim mai trong Quảng quần phương phổ có phải là kim lộ mai không.

Bài haiku sau của Basho:

ume ga ka ni notto hi no deru yamaji kana

Bản dịch của tôi:

Hương mai tỏa
Cùng với mặt trời mọc
Con đường núi

Bài haiku này không nói về kim lộ mai, mà chỉ nói về một thứ cây mai chung, có hương. Thứ mai có hương có lẽ là cây mai thân mộc, khác với kim lộ mai là cây thân thảo. Trên con đường núi, vầng mặt trời xuất hiện trong cùng lúc hoa mai tỏa hương. Ở đây có một sự bất định, hương mai khiến mặt trời xuất hiện hay mặt trời xuất hiện khiến hoa mai tỏa hương. Hương mai bắt đầu lan tỏa như vầng mặt trời vừa mới ló lên trên con đường núi. Khi mặt trời lên cao, mặt trời trở nên chói lóa và hương mai cũng hết. Có nghĩa là giữa hương mai và vầng mặt trời buổi sớm có một mối tương quan mật thiết. Đó là sự vi diệu của một sớm mai trên núi.

Photobucket


Hoa rẻ quạt

Hoa rẻ quạt

Đây là hoa rẻ quạt. Cái tên này có lẽ được dịch từ tên "cối phiến" (hi-ougi) của người Nhật. Người Trung Quốc gọi hoa này là "xạ can" có nghĩa là cái mộc đỡ tên bắn. Họ còn đặt biệt danh cho hoa là "giác tiễn lan", hoa lan giác tiễn, "giác tiễn" là cái kéo. Như vậy có thể thấy tùy theo trí tưởng tượng của con người về hình dạng bông hoa mà có thể gọi hoa bằng các tên khác nhau. Tên khoa học của hoa là Belamcanda chinensis.

Bài tanka sau ở trong Vạn diệp tập, bài số 89, khuyết danh:

Wi akasite
Kimi woba matamu
Nubatama no
A ga kuro-kami ni
Simo va vuru tomo

Bản romaji trên tôi lấy từ quyển The Manyoshu, translated and annotated của J.L. Pierson. Tôi dịch theo bản giải nghĩa bằng tiếng Anh trong quyển sách này:

Ngồi đến tận bình minh
Đợi chờ anh đến gặp
Như những quả rẻ quạt
Mái tóc em đen huyền
Lấm tấm trắng đọng sương

Cây rẻ quạt cho quả đen huyền như những hạt trân châu. Mái tóc của người con gái trong bài tanka đen huyền ví như màu sắc của những quả rẻ quạt. Người con gái đợi chờ suốt đêm người tình của mình, chờ  đến tận bình minh. Những giọt sương đã bám trên mái tóc đen huyền lấm tấm trắng. Sương trên mái tóc đen hay chính mái tóc trong một đêm đợi chờ người yêu tới đã lấm tấm bạc. Đời một người con gái có thể chịu được bao đêm như vậy để một sáng mai chưa thành bà lão bạc phơ mái đầu?


Hoa rẻ quạt


Hoa phong

Photobucket

Thông thường khi nói về cây phong người ta hay nói về lá phong mùa thu đỏ hay vàng trông như hoa, như Đỗ Mục từng viết "Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa", không thấy mấy người nói tới hoa của cây phong. Trong ảnh là hoa của cây phong, nở vào cuối xuân. Hoa phong trông cũng đẹp vậy mà ít người để ý tới. Cây phong này tôi không tra được tên khoa học vì chi Acer nhiều loại quá, nhưng có lẽ tên khoa học của cây phong trong ảnh là Acer truncatum.

Bài haiku sau của Itoh Tohkichi:

ao-zora-ya kaede soyogeba hana-ga aru

Bản dịch của tôi:

Trời xanh xanh
Cây phong trong gió thoảng
Nở hoa


Hoa phong

Hoa nam thiên

Hoa nam thiên

Hoa này được gọi là hoa nam thiên (nanten). Tên đầy đủ là Nam thiên trúc. Chữ "trúc" này có hai cách viết: một là chữ "trúc" trong tre trúc, hai là chữ "trúc" trong Thiên Trúc. Hai chữ trúc này nghĩa khác hẳn nhau. Tiếng Anh gọi cây hoa này là Heavenly bamboo hay Sacred bamboo, cho thấy có lẽ "trúc" là tre trúc đúng hơn. Tuy nhiên "nam thiên" chỉ có nghĩa là trời nam. Cây hoa này chẳng có gì giống cây trúc hay liên quan tới cây trúc. Do vậy tên gọi "nam thiên" như người Nhật gọi là hợp lý hơn cả. Tên khoa học của cây là Nandina domestica. Hoa nở vào mùa hè. Lá cây thường là ba lá đối nhau.

Bài haiku sau của Ota Hajo ở thế kỷ 18:

nanten ya yuki no hana chiru chouzubachi

Bản dịch của tôi:

Hoa nam thiên
Những bông tuyết lả tả
Bên chiếc giếng tẩy trần

Chouzubachi đọc theo Hán Việt là thủ thủy bát, không phải là cái giếng như ở Việt Nam. Đấy là nơi nước được dẫn về làm chỗ rửa tay, súc miệng trước khi vào đền hay chùa ở Nhật Bản, một hình thức "tẩy trần" trước khi vào chốn linh thiêng. Thủ thủy bát cũng là một hình thức kiến trúc cổ điển sân vườn ở Nhật Bản. Cây nam thiên nở hoa bên cạnh giếng nước tẩy trần trông như những bông hoa tuyết lả tả rơi xuống đọng lại trên cây.

Ghi chú:
Trúc (竺) còn có nghĩa là cây trúc (竹) bên cạnh nghĩa địa danh Thiên Trúc. Ngoài ra còn có nghĩa chỉ sơn danh, kinh danh, và tên nhạc cụ.


Hoa nam thiên


Ngân biên thúy

Ngân biên thúy

Ngân biên thúy là tên gọi hoa của người Trung Quốc. Thúy là màu xanh biếc, vốn để chỉ một thứ ngọc xanh, ngọc thúy. Ngân biên chỉ rìa lá ánh bạc. Lá thúy diềm bạc, một tên gọi khá đẹp. Người Nhật gọi hoa là sơ tuyết thảo (hatsu-yuki-sou), có nghĩa là cỏ tuyết đầu mùa, một cái tên cũng khá hay. Hoa có tên gọi như vậy vì ánh bạc cứ như là tuyết đầu mùa vừa mới đọng lại trên lá. Có tên liên quan tới tuyết, nhưng hoa lại nở giữa mùa hè nóng nực. Tên khoa học của hoa là Euphorbia marginata.

Bài haiku sau không biết của ai, tôi thấy trên mạng:

karisome no hakugin no yo ya hatsuyukisou

Tôi dịch như thế này:

Mỏng manh
Trong ngân bạc
Cây hoa tuyết đầu mùa

Ngân bạc (bạch ngân - hakugin) vừa chỉ ánh bạc, nhưng cũng có nghĩa là tuyết. Cây hoa như đang ở trong đám tuyết, nhưng lại giữa một mùa hè nắng cháy. Đặc điểm của cây hoa như một nghịch lý với tự nhiên.  


Ngân biên thúy


Hoa hợp hoan

Hợp hoan

Đây là hoa hợp hoan. Thoạt nhìn có thể tưởng đấy là một loại hoa mimosa, nhưng thực ra chúng rất khác nhau. Tên khoa học của hoa hợp hoan là Albizia Julibrissin, không thuộc chi Mimosa. Cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều gọi tên cây này là hợp hoan (nemu-no-ki hay nebu-no-ki). Nemu trong tiếng Nhật còn có nghĩa là ngủ. "Hợp hoan" là trai gái yêu nhau, theo một cách nói khác, cũng là "ngủ". Cây có tên gọi như vậy vì lá cây khép lại vào buổi tối hay vào lúc trời mưa như đang ngủ. Tên tiếng Anh của hoa là silk flower.

Basho có bài haiku sau:

Kisakata ya  ame ni Seishi ga  nebu no hana

Bản dịch của tôi:

Vịnh Kisakata
Trong mưa Tây Thi
Hợp hoan hoa

Bài haiku này rút từ trong tập ký Đường nhỏ thẳm sâu (Oku no Hosomichi) của Basho. Tôi đọc từ bản dịch tiếng Anh The Narrow Road to the Deep North. Trong tập ký này Basho viết: "Nếu như vịnh Matsushima giống như một người đang tươi cười thì vịnh Kisakata tựa như một nhân vật phẫn uất tràn đầy đau buồn và cô quạnh". Trong một trận núi lửa phun vịnh Kisakata bị vùi lấp và giờ đây Kisakata đã ở trong đất liền, không còn giống như thời của Basho nữa. Bài haiku viết về vịnh Kisakata trong mưa. Vịnh tựa như nàng Tây Thi trong mưa ngủ. Từ nebu chỉ tên hoa hợp hoan mà cũng có nghĩa là ngủ. Tây Thi nổi tiếng với giai thoại nhăn mặt vẫn xinh. Lúc nhăn mặt đôi mắt tựa như khép lại. Trong mưa nàng Tây Thi ngủ là nói tới vẻ đẹp đầy bí ẩn của Tây Thi. Đáng lẽ nhăn mặt phải là xấu, nhưng nàng Tây Thi lại vẫn đầy quyến rũ. Vịnh Kisakata trong mưa như vậy, như nàng Tây Thi đang nhăn mặt, tựa như đang ngủ. Ở đây chồng lấn thêm một tầng ý nghĩa khác, trong mưa cây hợp hoan cũng khép lá lại như đang ngủ, như đang chìm trong một giấc mơ hoan lạc. Vịnh Kisakata, nàng Tây Thi, cây hoa hợp hoan như đang cùng nhau say đắm chìm trong giấc mơ hoan lạc dưới mưa. Có vẻ đẹp nào quyến rũ hơn thế chăng?  

Hợp hoan


Thài lài xanh

Thài là xanh

Hoa này là hoa thài lài chính gốc, khác với hoa thài lài tím là tên ngoại suy. Tên khoa học của hoa là Commelina communis. Chi Commelina được gọi là chi thài lài. Tôi không biết "thài lài" có nghĩa gì. Cây hoa này trong tiếng Nhật được gọi là "lộ thảo" (tsuyukusa), có nghĩa là "cỏ sương", một cái tên khá hay. Hoa này cứ đến chiều là cụp mất. Hình dạng của hoa thài lài này cũng ngộ nghĩnh. Có hai cánh xanh lục ở phía trên,  và nhị hoa dài vươn ra phía dưới. Người Trung Quốc còn gọi cây hoa này là "áp chích thảo", có nghĩa là "cỏ chân vịt".

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 795, khuyết danh:

yo no naka no
hito no kokoro wa
hanazome no
utsuroi yasuki
iro ni zo arikeru

Bản dịch của tôi:

Ở trong cõi đời này
Tình người là sao vậy?
Phẩm nhuộm làm từ hoa
Những bông thài lài nở
Sắc màu phai bạc mau

Ở Nhật Bản có truyền thống dùng hoa thài lài xanh làm phẩm nhuộm vải vóc, quần áo. Phẩm nhuộm này cho màu không bền, vải vóc quần áo bạc màu rất nhanh. Tình người ở bài tanka này được ví như phẩm nhuộm làm từ hoa thài lài xanh, không bền và dễ nhạt phai. Trong Cổ kim Hòa ca tập còn hai bài tanka nữa, cũng nói đến phẩm nhuộm làm từ hoa thài lài này và cũng được làm ẩn dụ cho tình yêu, tình người chóng thay đổi, nhạt phai. Dường như hoa thài lài xanh trở thành ẩn dụ hay điển tích cho tình người chóng phai nhạt.

Thài lài xanh