Bài mới

Nhận xét mới

Hoa tuyết cầu

Tuyết cầu

Hoa này có tên khoa học là Viburnum plicatum. Tuy không thuộc chi tú cầu (Hydrangea), hoa vẫn có thể gọi là "tú cầu". Hình dạng của hoa là một quả cầu trắng muốt, nên chữ "tú" có nghĩa là thêu ngũ sắc có lẽ hơi bị ép.  Nhưng quả thật ngoài màu trắng muốt ra, hoa trông rất giống hoa tú cầu. Tôi gọi hoa là "tuyết cầu". Cái tên này lấy từ tên tiếng Anh Japanese snowball. Người Nhật gọi hoa là "đại thủ cầu" (oodemari) hay "thủ cầu hoa" (temaribana). Thủ cầu là một loại bóng tròn ở Nhật, trông rất giống như quả cầu mây, thường mang tính trang trí.  Nhưng cái tên "thủ cầu" này tôi sẽ dùng để gọi tên một loại hoa khác. Người Trung quốc gọi hoa là "phấn đoàn". "Phấn" chỉ màu trắng, "đoàn" chỉ hình tròn. Tôi không thích chữ "đoàn" vì chữ này chỉ hình tròn phẳng, thiếu không gian ba chiều như chữ "cầu". Hoa này là một trong những loài hoa mà tôi gọi tên ra ngoài truyền thống Trung - Nhật. Hoa này nở vào cuối xuân.

Bài haiku sau của Oka Semei:

mari-yorimo teni atataka-shi temari-bana

Bản dịch của tôi:

Như quả bóng
Trên tay ấm áp
Bông tuyết cầu

Bài haiku này là sự đối nghịch liên tưởng. Bông tuyết cầu trắng muốt như một bông tuyết. Nhưng khi đặt nó trên tay, bàn tay không mát lạnh như tuyết, mà trái lại lại ấm áp như một quả bóng da thật thụ.

Tuyết cầu

Hoa tử dương

Tử dương hoa

Hoa này có tên khoa học là Hydrangea macrophylla f. normalis. Về nguyên tắc có thể gọi là hoa tú cầu. Tú là thêu ngũ sắc, cầu là hình cầu. Hoa có nhiều màu sắc khác nhau cho nên gọi là "tú". Nhưng tôi không gọi hoa này là tú cầu, vì hình dạng bông hoa không hẳn có hình cầu như những hoa tú cầu khác, chẳng hạn như hoa Hydrangea macrophylla. Tôi gọi hoa này theo kiểu người Nhật gọi, tử dương hoa (tên đầy đủ là ngạch - tử dương hoa, gaku - ajisai). "Tử" là màu tím xanh, "dương" là đối nghĩa với "âm". Có thể hình dung "dương" như là mặt trời. Một mặt trời tím xanh. Hoa có hình thù rất hay. Vòng ngoài là các bông hoa to có bốn cánh, bên trong là những hoa và nhụy có hình dạng khác hẳn.

Basho có bài haiku sau:

ajisai ya katabira toki no usu asagi

Tôi dịch như sau:

Hoa tử dương nở
Tiết mặc áo mát
Xanh lam

Hoa tử dương nở vào mùa hè. Tiết trời nóng nực. Những chiếc áo kimono mỏng được mang ra mặc có màu xanh phớt tím, như những bông tử dương đang đua nở. Nhà thơ không cho biết ai đang mặc những chiếc kimono mỏng manh xanh tím làm dịu mát mùa hè oi ả. Nhưng tôi hình dung ra các cô gái thanh xuân trong một ngày hè nóng bức. Cái nóng bức không còn ở đây. Chỉ còn những màu xanh tím dịu mát, như hoa tử dương đang nở, như những thanh xuân tươi trẻ trong làn áo mát mắt ngày hè.


Photobucket

Dành dành sao

Dành dành

Dành dành sao không phải là tên chính tắc của hoa này. Đấy là tên do tôi đặt. Hoa này thực chất là hoa dành dành cánh đơn, nhưng tôi không thích tên "cánh đơn" nên gọi là dành dành sao, một tên mô phỏng theo hoa nhài sao (Trachelospermum jasminoides). Dành dành sao cũng có hương thơm ngát.

Bài haiku sau của
Masaoka Shiki, một trong bốn nhà thơ haiku lớn nhất của Nhật Bản:

haku tsukiyo hana kuchinashi no nioi keri

Bản dịch của tôi:

Đêm trăng bàng bạc
Hoa dành dành
Thoảng hương

Ở bài haiku này, ánh trăng trong đêm và hương hoa dành dành đều mỏng manh, bàng bạc. Tuy mỏng manh bàng bạc nhưng chúng không phải là vô định hình, không xác định hay khó nắm bắt. Ánh trăng trong đêm rất rõ ràng minh xác cũng như hoa dành dành đang đưa hương, một mùi hương nhẹ nhàng, thoang thoảng trong đêm thanh. Cái nhẹ nhàng, thanh tao không đồng nghĩa với phù du, bất định. Bài haiku này là sự cô đọng tinh túy cái nhẹ nhàng, thanh tao thường nhật quanh ta.

Dành dành

Hoa dành dành

Dành dành

Hoa này có nhiều tên gọi khác nhau: dành dành, nhài Thái, ngọc bút. Tôi gọi là dành dành. Tên khoa học là Gardenia jasminoides. Tuy thuộc chi Gardenia, nhưng hoa lại có thêm chữ jasminoides nên rất dễ liên tưởng tới hoa nhài. Hoa thơm phảng phất như hoa nhài, không nồng nàn như kim ngân. Mỗi hoa có mùi hương khác nhau, nhưng làm thế nào miêu tả chính xác được mùi hương? Người Nhật và người Trung quốc đều gọi hoa này là hoa chi (kuchinashi) hay "chi tử". Hoa này có hai loại khác hẳn nhau: cách kép và cánh đơn.

Bài tanka sau ở trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 1026, khuyết danh:

Miminashi no
yama no kuchinashi 
eteshi gana
omoi no iro no
shitazome ni sen

Bản dịch tiếng Anh trong quyển Kokinshu: A Collection of Poems Ancient and Modern

if only I could
secure blooms of the silent
gardenias that grow
upon Earless Mountain to
dye my robe with love's scarlet

Tôi dịch với trợ giúp của bản dịch tiếng Anh:

Trên núi Miminashi
Những bông dành dành nở
Giá được
Màu nhung nhớ thắm tươi
Nhuộm thành

Núi Miminashi ở vùng Nara nơi nổi tiếng có hoa dành dành. Cây dành dành dùng để nhuộm vải vóc. Tôi không rõ là dùng hoa hay dùng hạt dành dành để nhuộm. Theo bản dịch tiếng Anh "omo(h)i" có chứa từ "hi" chỉ màu đỏ tươi. Tiếng Nhật viết "omoi" là "tư-hi"(思ひ) chỉ nhung nhớ, nhớ thương. "Hi" còn được giải nghĩa là "phi"(緋) tức lụa đào, thứ lụa có màu đỏ thắm. Tôi nghĩ "nhớ nhung" ở đây phiếm chỉ màu đỏ thắm. Giá được những bông dành dành trên núi Miminashi để nhuộm màu đỏ thắm nhung nhớ. Màu đỏ được ẩn trong nỗi niềm nhung nhớ và cháy bỏng. Hay nỗi niềm nhung nhớ và cháy bỏng ẩn dấu trong tấm áo lụa đào đỏ thắm được nhuộm từ những bông hay hạt dành dành trên đỉnh Miminashi.
 
Dành dành

Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh

Photobucket

Tôi chợt nhớ tới câu thơ này của Nguyễn Du: Nhân tự bi thê thảo tự thanh. Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh là câu thơ dịch của tôi nhiều năm trước đây. Cỏ cứ bời bời tươi tốt mà con người cứ buồn thương vô hạn. Tôi không biết tại sao xanh tươi lại cứ đối nghịch với buồn thương. Không có nỗi buồn màu xanh ngút ngàn trải tận cuối chân mây hay sao? Màu thời gian không xanh, màu thời gian tím ngắt. Nếu có chìm đắm trong tâm tưởng về một quá khứ đã qua, nơi đấy thời gian cũng không có màu xanh ngút ngàn.

Bài thơ của Nguyễn Du mà tôi dịch cách đây cũng đã lâu là bài Thanh minh ngẫu hứng. Tiết Thanh minh đã qua lâu rồi, hôm nay đã là ngày Hạ chí.

Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự bi thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối Thanh minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sinh

Bản dịch thơ của tôi:

Gió đông sớm tối lộng bên thành
Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh
Xuân đến nào thân thời trẻ khỏe
Trời bên không rượu tiết Thanh minh
Câu ca trong xóm hay canh cửi
Tiếng khóc ngoài đồng tưởng chiến tranh
Quán trọ ôm sầu khôn kể xiết
Gần thềm chớ để cỏ leo quanh

Bài thơ này có hai lần nhắc đến cỏ. Cỏ cứ xanh và chớ để cỏ mọc gần thềm nhà. Cỏ như một đối lập của chính nhân. Cây cỏ bé nhỏ nhưng lại đa nghĩa. Tìm hiểu về cỏ cây hoa lá xứ lạ tôi nhận thấy rất khó biết được tên các loại cỏ. Chúng giống nhau và cũng rất khác nhau. Có nhiều loại cỏ khác nhau, nhưng tôi chịu không thể tra được tên gọi của chúng. Cỏ trong ảnh ở trên là một loại, cỏ trong ảnh ở dưới là loại khác. Trong ảnh ở dưới cỏ tai hổ được trồng lẫn vào đám cỏ xanh. Lá cỏ tai hổ bị chìm khuất dưới đám cỏ xanh nên không trông thấy. Những bông hoa cỏ tai hổ trông như những cánh cò trắng đang đậu trong rặng tre xanh ngát. Đấy là tưởng tượng của tôi khi chụp tấm hình này.

Photobucket

Tước mạch

Tước mạch

Thông thường chẳng mấy ai để ý tới các loại cây cỏ kiểu này. Chúng mọc hoang bên vệ đường, bãi cỏ, lẫn trong các loại cây cỏ. Người đời chỉ quan tâm tới phương thảo, Ngu cơ thảo chứ có ai thèm nhìn chúng. Phận cỏ đã loi choi dưới thấp, lại không có kỳ tích, vẻ đẹp, khó mà được để ý tới. Đây là cỏ tước mạch. Tên khoa học là Bromus japonicus.  "Tước mạch" là tên gọi của người Trung Quốc. Người Nhật gọi cỏ này là "tước trà vãn" (suzume-no-chahiki).  Tước là chim sẻ. Quảng quần phương phổ giải thích rằng hạt của cây cỏ này là thứ mà chim sẻ, chim yến ăn.  Tên của cỏ là do vậy. Cũng vì vậy mà cây cỏ này còn có tên là "yến mạch", nhưng không phải thứ "yến mạch" thông thường. Tôi nghĩ gọi là "cỏ" có khi không được chính xác lắm. Gọi là "lúa tước mạch" có khi chuẩn hơn. Quảng quần phương phổ thông thường chép rất nhiều thơ, nhưng với tước mạch thì lại chẳng có một câu thơ nào. Ai có cảm hứng với tước mạch chứ?  

Tước mạch

Hoa quỳ

Hoa quỳ

Đây là hoa quỳ. Người Nhật gọi là "lập quỳ" (tachi-aoi), người Trung Quốc gọi là "Thục quỳ", người Anh gọi là hollyhock. "Lập" có nghĩa là đứng thẳng, bởi vì cây hoa mọc vươn cao khá là thẳng đứng. "Thục quỳ" có nghĩa là hoa quỳ đất Thục. Tôi gọi đơn giản là hoa quỳ. Tên khoa học là Alcea rosea.  Loại hoa này thuộc chi khác với dã quỳ ở Việt Nam. Cây thân thảo. Hoa có nhiều màu sắc khác nhau từ trắng đến hồng, đỏ, tím và pha màu lẫn nhau.

Masaoka Shiki, nhà thơ cuối cùng trong danh sách "tứ đại bài nhân", bốn nhà thơ haiku lớn nhất của Nhật có bài haiku sau:

nobikitte
geshi ni ohtaru
aoi kana

Một bản dịch tiếng Anh như sau:

a hollyhock
shot up to meet
the summer solstice

Còn đây là bản dịch của tôi:

Cố vươn lên
Đón trời hạ chí
Quỳ hoa

Cây hoa quỳ vốn mọc thẳng, như vươn lên trời xanh. Ngày hạ chí là ngày mà mặt trời ở xa trái đất nhất. Tác giả thấy dường như cây hoa quỳ cố gắng vươn hết mình để đón ngày hạ chí. Một bài haiku khá hay của ngày hè.


Hoa quỳ

Bí ẩn của làn nước

Đây là bài thơ tôi làm cách đây hơn chục năm. Bài thơ này tôi làm khi đọc truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh. Bây giờ xem lại các bài thơ ngày xưa đấy, tôi nhận thấy phần lớn những bài thơ tôi làm đều nhân đọc một cái gì đấy, xem một cái gì đấy hay nghe một cái gì đấy. Hóa ra cũng có một thời dễ xúc động và tôi chỉ biết làm thơ khi đọc, xem hay nghe một cái gì đấy, thiếu chúng là tịt. Giờ nhìn lại cũng thấy buồn cười. Có thể ngày xưa đã buồn cười rồi, nhưng lúc đấy không nhận ra. Vài năm nữa có khi đọc lại những dòng chữ này cũng lại thấy buồn cười. Nếu cuộc đời là những chuỗi cười bất tận thì rất may mắn. Và cũng may mắn chưa phải là homo sentimentalis. Giờ đây tôi không còn nhớ truyện ngắn của Bảo Ninh như thế nào, may là hồi đấy tôi đã cẩn thận ghi lại chú thích, không thì hôm nay cũng chịu không thể biết được ngọn nguồn bài thơ. Hóa ra người xưa đọc sách đề thơ cũng không phải là một điều gì đáng phải ngạc nhiên.

Bí ẩn của làn nước

Có những nỗi đau không thể nói lên lời
Đành câm lặng theo cùng năm tháng
Dẫu dòng sông cứ chảy hoài ra biển lớn
Có bao giờ con nước cạn lòng khơi

Nỗi đau này mãi mãi chẳng thể nguôi
Cũng chẳng thể cùng ai chia sẻ
Năm tháng trôi qua nỗi đau còn giằng xé
Muốn khóc òa lên sao nước mắt nghẹn trào

Chỉ có dòng sông thấu được nỗi đau
Cứ thắt ruột vật vã hoài con sóng
Bao người đi qua soi bóng mình đáy nước
Mặt chập chờn nào cảm được dòng đau

Dòng sông ơi, sao cứ giấu mãi sâu
Cứ lặng lẽ đêm ngày quằn quại
Phù sa chở đắp bồi bao bến bãi
Mà vết thương lòng chẳng thể nguôi ngoai

Đông A

Mười hai tháng sáu

Hôm nay nhân đọc blog của bác Nhị Linh có nhắc đến Vũ Hoàng Chương, tôi chợt nhớ tới bài thơ làm cách đây đã lâu, vào đúng hôm trước ngày 6 tháng 9. Thế nào hôm nay lại đúng là ngày 12 tháng 6. Có những sự trùng hợp tình cờ kỳ lạ mà ta không thể nào hiểu nổi, chỉ có thể kinh ngạc đến sững sờ vì lẽ tự nhiên của chúng. Vì lẽ này mà tôi muốn nghe lại bài thơ Mười hai tháng sáu của Vũ Hoàng Chương. Đây là bài thơ mà hồi học phổ thông tôi rất thích. Tôi vẫn còn nhớ hồi đấy đọc Phan Cự Đệ giảng cho câu "Kiều Thu hề, Tố hỡi em / Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng". Tại sao lại là "nghiêng chân rốn bể". Về sau tôi đọc Nguyễn Tấn Long mới biết lời giảng đấy không phải là phát kiến của Phan Cự Đệ. Có thể Phan Cự Đệ có dẫn tài liệu nhưng chắc hồi nhỏ đấy tôi đọc mà không để ý.

Đây là bài ngâm thơ của Hoàng Oanh. Bài này không hẳn là xuất sắc, nhưng tôi không tìm được bài ngâm của ai khác trên mạng. Về nghệ thuật ngâm thơ hình như chỉ có sách của Bùi Công Kỳ ở Đài tiếng nói Việt Nam viết.


Get this widget | Track details | eSnips Social DNA

Cập nhật

Theo các comments tôi tìm được thêm hai bài ngâm nữa của Tô Kiều Ngân và Lê Ba. Cả ba bài ngâm này đều thuộc cùng một kiểu ngâm, ngâm Tao Đàn. Lê Ba và Tô Kiều Ngân có giọng Huế, còn Hoàng Oanh có giọng bắc. Thử so sánh các giọng ngâm này bằng khổ thơ đầu tiên. Ba câu đầu khó so sánh, nhưng câu cuối của khổ đầu: Tố của Hoàng ơi hỡi nhớ thương, Lê Ba ngâm rất hay, chữ "hỡi" đẩy đi nhẹ, không ngân lên cao như Hoàng Oanh hay Tô Kiều Ngân, tạo cảm giác da diết, nhớ nhung, pha luyến tiếc. Bài ngâm của Lê Ba lại thiếu mất một khổ thơ, nghe hơi khó chịu. Không biết bài Mười hai tháng sáu này ngâm ở các kiểu ngâm khác thì như thế nào. Tôi nghĩ bài thơ này không nhất thiết cả bài phải ngâm trong một kiểu. Phần lục bát ở cuối có thể ngâm sa mạc, nhưng không rõ sẽ như thế nào.

Giọng ngâm của Lê Ba
Get this widget | Track details | eSnips Social DNA

Giọng ngâm của Tô Kiều Ngân
Get this widget | Track details | eSnips Social DNA

Nhân đọc Ba kiếp lang thang

Bài thơ này tôi làm cách đây cũng hơn cả chục năm. Hôm nay chợt nhớ lại và thấy cũng ly kỳ là có lúc mình cũng làm được thơ.

Nhân đọc Ba kiếp lang thang

Gần hết cuộc đời mới tỉnh sao
Hoài chi vang vọng thưở xưa nào
Mười hai tháng sáu dây tơ đứt
Nhạc hết say rồi khúc gượng chao

Giang Nam người cũ đành quên hẹn
Xiêm áo mong manh rút sợi thương
Phách lạc từ đây thành lạc phách
Dương tầm tiên đoạn tuyệt Tầm dương

Liêu trai rờn rợn màu lê huyết
Lất phất mưa giăng trắng tóc xanh
Bạc mệnh đảo điên đời mệnh bạc
Canh tàn rượu đắng vị tàn canh

Lá thư ngày trước phai màu mực
Đời vắng em rồi khóc kiếp ai
Trống mặt xang xừ hề mặt trống
Người ghê nhịp loạn ngụt ghê người

Âm ba gờn gợn đâu rung nữa
Gắng gượng cuồng ca chuếch choáng đau
Lưu lạc tha hương trơ lệ phách
Rạc rài ý cạn lấp mồ sâu

Đông A
5/9/95

Chua me đất


Chua me đất

Cây chua me đất có nhiều loại khác nhau. Có loại hoa vàng, có loại hoa tím. Có loại lá xanh, có loại lá tím. Chúng đều thuộc chi Oxalis. Đặc điểm chung của cây chua me đất  là có vị chua, và vì vậy mà chúng có tên chua me.  Tiếng Nhật gọi cây chua me đất là "tạc tương thảo". "Tạc tương" là một thứ nước chua. Lá của cây này là lá phức, thường có 3 lá, nhưng chúng không thuộc chi cỏ ba lá.  Cây chua me đất hoa vàng lá xanh ở trên có tên khoa học là Oxalis corniculata, tôi gọi là "chua me đất". Cây chua me đất hoa vàng, lá tím ở dưới có tên khoa học là Oxalis corniculata f. rubrifolia tôi gọi là "chua me đất tía". Cây chua me đất hoa tím, lá xanh ở dưới có tên khoa học là Oxalis articulata tôi gọi là "chua me đất tím".

Iwama Otsuni có bài haiku sau:

katabami no hana amefuru to naku suzume

Tôi dịch như sau:

Chua me đất nở hoa
Mưa rơi
Tiếng sẻ kêu

Tiếng sẻ kêu trong mưa nghe rất tội nghiệp, tuy không phải là tiếng kêu buồn thảm. Có chút gì đó lo âu, thảng thốt. Giống như hoa chua me đất trong mưa xơ xác tơi bời. Phải chăng đặc điểm này giống như cỏ bợ ở Việt Nam?  


Chua me đất

Chua me đất

Thài lài tím

Thài lài tía

Đây là loại cỏ mọc hoang dã. Tên khoa học là Tradescantia sp. Cái tên "thài lài tím" là tên ngoại suy. Thông thường "thài lài" là tên gọi loại cỏ thuộc chi Commelia. Điểm này cũng tương tự như trong tiếng Nhật. Cây cỏ này trong tiếng Nhật gọi là "tử lộ thảo", có nghĩa là cỏ sương móc tím. "Lộ thảo" cũng là tên để gọi cho loại cỏ thuộc chi Commelia. Cây cỏ này còn được gọi là "rau trai", có lẽ bắt nguồn từ tên gọi trong tiếng Trung Quốc "bạng thảo". Cũng giống như một số cây cỏ khác, rất kho truy được từ nguyên của "thài lài". Cây cỏ này trong tiếng Anh là spiderwort.

Tiếng Việt có câu tục ngữ "Gái gặp hơi trai như thài lài gặp cứt chó. Trai phải hơi vợ như cò bợ phải trời mưa". Cây thài lài gặp cứt chó thì tươi tốt, phổng phao. Giờ tôi có thể hình dung câu tục ngữ này rất trực quan. Tôi chưa trông thấy con cò bợ bao giờ. Cò bợ chắc hẳn là loại cỏ rũ rượi xác xơ, vì có câu "say lử cò bợ". Cò gặp trời mưa đã rũ rượi rồi, cò bợ gặp trời mưa thì chắc phải phờ phạc bội phần. Câu tục ngữ này là kinh nghiệm dân gian được đúc kết cả ngàn đời. Ông bà ngày xưa nhiều khi cũng cay nghiệt. Câu tục ngữ này dù sao cũng có ý nghĩa tiêu cực cho phái nữ.


Thài lài tím

Hoa không mộc

Hoa không mộc

Đây là hoa không mộc mà tôi có nhắc đến khi nói về hoa cẩm đái. Hoa nở thành chùm, trắng muốt, trông rất đẹp. Nhiều nhà thơ Nhật đã ví hoa như những bông tuyết mùa hạ trên cây. Đây cũng là hoa hay được các nhà thơ Nhật nói đến trong thơ ca của mình. Tên khoa học của hoa là Deutzia crenata, thuộc chi hoàn toàn khác so với hoa cẩm đái, mặc dù người Nhật vẫn gọi hoa cẩm đái là hoa không mộc.

Issa có bài haiku sau:

nedoko miru hodo wa u no hana akari kana

Bản dịch tiếng Anh của D.G. Lanoue

enough light
to light my bedroom...
deutzia blossoms

Bản dịch của tôi:

Trong phòng ngủ
Nhìn thấy hoa không mộc
Chiếu sáng

Ở bài haiku này phòng ngủ đang chìm trong bóng tối, con mắt của nhà thơ đang quen với bóng tối, nhìn thấy chùm hoa không mộc trắng muốt ở bên ngoài, được phản chiếu bởi ánh trăng sao, như có cảm giác chùm hoa không mộc đang chiếu sáng cho căn phòng ngủ tăm tối. Hoa không mộc không phải là nguồn sáng, nhưng vì màu trắng tinh khiết của chúng mà  tạo ra cảm giác về chiếu sáng. Màu sắc của hoa là hiệu ứng quang học trong cảm xúc thi ca của bài haiku này.

Hoa không mộc

Hoa cẩm đái

Hoa cẩm đái

Hoa này có tên khoa học là Weigela florida. Tôi gọi là hoa cẩm đái, giống như người Trung Quốc gọi. Người Nhật gọi là "đại hồng không mộc". tức là hoa không mộc đỏ lớn. Tôi không gọi là hoa không mộc vì hai chữ "không mộc" tôi để gọi một loại hoa khác. "Cẩm đái" có nghĩa là dải gấm. Hoa nở theo từng chùm trải dài trên một nhánh cây bụi, có thể hình dung như một dải gấm. Nhưng không hiểu sao mỗi khi lại gần bụi hoa này tôi toàn bị sổ mũi. Không biết có phải dị ứng với phấn hoa hoa này không.

Issa có bài haiku sau:

u no hana ni hitorikiri no torii kana

Bản dịch tiếng Anh của D.G. Lanoue:

amid deutzia blossoms
all alone...
a torii gate

Tôi dịch như sau:

Hoa không mộc nở
Lẻ loi
Cổng đền

Hoa cẩm đái trong tiếng Nhật là utsugi (không mộc), có thể gọi là u no hana. U no hana lại thường được chỉ một loại hoa không mộc khác có màu trắng, mà tên trong tiếng Anh là deutzia, loại hoa mà tôi gọi là không mộc. Theo chú thích trong bản dịch tiếng Anh,  Hitorikiri là tên một nhà tu hành được đặt tên cho một cổng đền Thần đạo, nhưng hitorikiri lại có nghĩa là "all alone". Bản dịch tiếng Anh là như vậy. Tori là cách gọi cổng đền Thần đạo của Nhật. Cái cổng này rất đặc biệt và nét đặc trưng của văn hóa Nhật. Những bông hoa không mộc nở xôm tụ như một sự đối lập với cổng đền trơ trọi lẻ loi.



Hoa cẩm đái

Cỏ hồ điệp

Hồ điệp thảo

Cây hoa này có tên gọi là hồ điệp thảo hay là cỏ hồ điệp. Bông hoa trông rất giống con bướm. Tôi không gọi là "hoa bướm" để khỏi lẫn với hoa pansee. Ngoài hoa pansee tôi còn nhớ có một loại hoa dại màu vàng, có gai, mọc hoang ở triền đê, cũng được gọi là hoa bướm. Tên khoa học của cỏ hồ điệp là Gaura lindheimeri. Hoa màu trắng còn gọi là bạch điệp thảo hay cỏ bướm trắng.

Tôi thử tìm xem có bài thơ nào nhắc tới hoa này không thì không tìm được. Không biết là tại tôi tìm chưa kỹ hay là hoa này không tạo ra cảm hứng cho thi nhân. Tôi thấy cũng kỳ lạ vì hoa bìm bìm trông không được đặc sắc bằng mà lại được nhiều thơ nhắc đến.


Hồ điệp thảo

Hồ điệp thảo