Bài mới

Nhận xét mới

Nhất dĩ quán chi

Trong Sử ký, Tư Mã Thiên chép Khổng Tử nói rằng: "Những kẻ không hạ thấp cái chí của mình, không làm nhục cái thân của mình đo là Bá Di, Thúc Tề; Liễu Hạ Huệ và Thiếu Liên, thì hạ thấp cái chí của mình, làm nhục cái thân của mình. Ngu Trọng, Di Dật ở ẩn, không nói gì về việc đời, khi làm quan thì giữ được sự thuần khiết, khi bị bỏ thì theo đúng hoàn cảnh. Ta thì không phải như họ, ta không chủ trương cứng nhắc phải thế này, hay không thể thế này." Lời lẽ này của Khổng Tử phù hợp với Luận ngữ khi bàn về quân tử: Người quân tử ở trong thiên hạ không chủ trương phải thế này hay không phải thế này, chỉ hợp nghĩa thì làm. "Nghĩa" là một khái niệm khó xác định hiển ngôn, có nghĩa là đấy là một khái niệm không có định nghĩa. Tuy không có định nghĩa, "nghĩa" cũng không phải là một khái niệm tùy tiện, ba phải. "Nghĩa" là điểm nhất quán giữa tri thức và hành động. Tri thức và hành động là tri thức và hành động của người có tri thức và hành động đấy, không phải là tri thức và hành động của thiên hạ. Thiên hạ không phải là một quy chuẩn, lại càng không phải là khuôn thước để phải thế này hay không phải thế này. Sử ký chép rằng một đứa trẻ trong làng nói rằng Khổng Tử biết nhiều, nhưng không chuyên về một mặt nào. Khổng Tử nói rằng: "Ta biết chuyên về nghề gì? Vào nghề đánh xe chăng? Vào nghề bắn tên chăng? Ta chuyên về nghề đánh xe vậy?" Ở đây ý muốn Khổng Tử phải chuyên về một mặt nào đấy là ý muốn của nhiều người, được thể hiện qua phát ngôn của một đứa trẻ trong làng. Phát ngôn của một đứa trẻ là phát ngôn ấu trĩ (ấu trĩ là trẻ con). Đấy là cách thể hiện của Sử ký. Những ý muốn một người nào đấy phải thế này hay không phải thế này, không đếm xỉa đến tính nhất quán giữa tri thức và hành động của người đấy là một ý muốn trẻ con.


Đào kim ti

Đào kim ti

Hoa này có thể gọi là hoa đào kim ti hay hoa đào tơ vàng. Đấy là tên gọi theo kiểu của người Trung Quốc. Nhưng có lẽ gọi là mai kim ti hay mai tơ vàng có khi lại hợp hơn, bởi vì hoa trông giống hoa mai hơn. Hoa có nhị trông như những sợi tơ vàng óng ả, khá dài vươn khỏi đài hoa. Quảng quần phương phổ có 4, 5 dòng chép về hoa này, trong cùng quyển chép về hoa đào. Người Nhật gọi hoa này, đọc theo Hán tự, là "mỹ dung liễu" hay "Vị ương liễu" (biyou-yanagi). "Mỹ dung" là dung nhan đẹp, còn "Vị ương" không rõ có xuất xứ như thế nào. Có thể "Vị ương liễu" để chỉ cây liễu trong cung Vị ương, như trong câu thơ của Bạch Cư Dị "Thái dịch phù dung, Vị ương liễu", vốn để tả vẻ đẹp của Dương Quý Phi. Cũng hơi lạ là người Nhật gọi cây hoa này thuộc loại "liễu", nhìn chẳng thấy giống cây liễu thướt tha mềm mại rủ cành. Tên khoa học của cây là Hypericum chinense, cho thấy cây vốn là cây bản địa của Trung Quốc.

Bài haiku sau của Dasoku:

sakide nu bieu-no-yanagi tayotayoto

Bản dịch của tôi:

Nở rực rỡ
Những bông đào kim ti
Mềm mại yêu kiều

Hoa thường hay được liên tưởng tới người phụ nữ. Hoa đào kim ti lại càng khiến người ta tưởng tới những người con gái yêu kiều mềm mại.


Đào kim ti


Hoa lăng tiêu

Hoa lăng tiêu

Hoa lăng tiêu được trồng ở rất nhiều nơi. Cứ đến giữa hè là hoa nở. Hoa có tên khá hay: lăng tiêu có nghĩa là ráng mây. Hoa có màu sắc tưởng như  màu của một ráng mây chiều. Tên khoa học của hoa là Campsis grandiflora.

Masaoki Shiki có bài haiku sau
 
nouzen ya hitotsu ru tare shi hana kadura

Bản dịch của tôi:

Hoa lăng tiêu
Những nhánh bông rủ xuống
Như những lọn tóc hoa

Bài haiku này liên tưởng rất hay. Những bông lăng tiêu mềm mại rủ xuống trông như những lọn tóc mai của những nàng con gái. Một kiểu tóc ngày xưa. Ngày nay không còn thấy những cô gái để tóc mai rủ xuống hai bên.
 


Hoa lăng tiêu


Cỏ trăng soi vàng

Nguyệt kiến thảo

Cây hoa này cũng thuộc chi Oenothera như cỏ trăng soi hồng. Tôi gọi là cỏ trăng soi vàng hay cỏ đón đêm vàng. Tên khoa học của cây là Oenothera biennis.  Cỏ trăng soi hồng được trồng lẫn mọc hoang dã, nhưng cỏ trăng soi vàng tôi chỉ thấy mọc hoang dã ở các bãi cỏ, không thấy ai trồng.

Đây là bài tanka trong Cổ kim Hòa ca tập, bài số 772, khuyết danh, qua bản dịch tiếng Anh của Donald Keene:

Although I am sure
That he will not be coming
In the evening light
When the locusts shrilly call
I go to the door and wait

Tôi dịch từ bản dịch tiếng Anh này, hiệu chỉnh đôi chút cho phù hợp với nguyên bản:

Anh sẽ chẳng đến đâu
Mặc dù em biết thế
Khi dế kêu rả rích
Trong màn đêm dần buông
Tựa cửa em vẫn chờ

Bài tanka này không viết về hoa trăng soi hay hoa đón đêm, nhưng lại gợi nhớ tới chúng. Người con gái trong bài tanka đang khắc khoải đón đêm xuống. Mặc dù biết chắc rằng chàng trai sẽ không đến nhưng người con gái vẫn tựa cửa đứng chờ. Tiếng dế càng rả rích, màn đêm càng buông sâu, người con gái càng khắc khoải. Hy vọng mong manh, thậm chí là vô vọng vẫn chờ. Lý trí biết là vô vọng, tình cảm vẫn không nỡ buông xa. Sự khác nhau giữa người con gái và hoa trăng soi ở chỗ bông hoa biết chắc chắn rằng đêm sẽ tới, cứ nở hết mình, đêm không thể không tới. Người con gái không có cái chắc chắn như vậy của hoa. Tựa cửa trong bóng đêm càng lúc càng dày, trong tiếng dế càng lúc càng não ruột, những điểm trang biết có uổng lòng. 

Nguyệt kiến thảo

Cỏ trăng soi

Nguyệt kiến thảo

Cây hoa này có tên gọi là "nguyệt kiến thảo" (tsukimisou) hay "đãi tiêu thảo" (matsuyoigusa). Cả hai tên gọi này đều hay. Một tên là "cỏ trăng soi", còn tên kia là "cỏ đón đêm". Tôi sẽ gọi cây hoa này là cỏ trăng soi hồng. Tên tiếng Anh là Pink primrose. Tên khoa học là Oenothera speciosa.

Watanabe Suiha có bài haiku sau:

Hokuto tsuyu no gotoshi saki sumu tsukimisou

Tôi dịch như sau:

Bắc Đẩu, những giọt sương
Tựa như nở hết mình
Cỏ trăng soi

Thực ra tôi không hiểu bài haiku này. Bản dịch trên là một cố gắng hiểu. "Hokuto tsuyu" được viết bằng chữ Hán là "bắc đẩu lộ", theo đúng nghĩa của từng chữ là giọt móc Bắc Đẩu. Có lẽ là, các ngôi sao Bắc Đẩu như những giọt sương trong đêm, nơi đấy cỏ trăng soi đang xòe nở hết mình. Hoa nở trong đêm như các ngôi sao lấp lánh trên trời.


Nguyệt kiến thảo

Nguyệt kiến thảo


Cẩm chướng đơn

Cẩm chướng đơn

Hoa cẩm chướng này có thể gọi là hoa cẩm chướng đơn hay cụ thể hơn hoa cẩm chướng Trung Quốc đơn. Hoa có tên khoa học là Dianthus chinensis. Chữ "đơn" có hai nghĩa: cánh hoa đơn và hoa nở từng bông đơn. Hoa cẩm chướng Dianthus chinensis có hai loại: loại hoa nở từng bông đơn lẻ và loại hoa nở thành một cụm giống như hoa cẩm chướng mỹ nữ.

Basho có bài haiku sau:

youte nen  nadeshiko sakeru  ishi no ue

Tôi dịch như sau:

Say nằm
Những bông cẩm chướng nở
Trên đá

Khi dịch bài haiku này tôi bỗng nhớ tới câu thơ của Đinh Hùng "Tôi sẽ say nằm ngủ dưới hoa". Basho ở bài haiku này cũng say nằm ngủ dưới những bông cẩm chướng nở. Cẩm chướng còn được gọi là "thạch trúc", cây trúc đá. Cây trúc đá nở hoa trên đá, và một người uống rượu say ngủ dưới hoa. Thực ra hình ảnh say ngủ dưới hoa là hình ảnh khá phổ biến trong thi ca cổ điển. Dường như đó là thoát tục, lánh khỏi những bận bịu vướng víu với cuộc đời trần tục. Say là hình thức thoát khỏi hiện thực. Người say là người đang trải nghiệm ở một thời gian và không gian khác. Hoa là biểu tượng cho vẻ đẹp. Say ngủ dưới hoa là một giấc mơ. Tất cả hoa, đá và người say đều là thực, nhưng khi chúng đi với nhau, các cái thực đó lại tạo ra một cái ảo như trong một giấc mơ, như ở một thế giới khác, ở một thời gian khác.

Cẩm chướng đơn


Cẩm chướng mỹ nữ

Cẩm chướng mỹ nữ

Tìm hiểu về loại hoa này tôi mới biết tên hoa cẩm chướng là tên riêng của Việt Nam. Trước tôi cứ nghĩ cẩm chướng là tên gọi có xuất xứ từ Trung Quốc hay Nhật Bản. Người Trung Quốc gọi hoa cẩm chướng là thạch trúc, còn người Nhật gọi là phủ từ hay thạch trúc tùy theo từng loại. Hoa này không hẳn giống như hoa cẩm chướng thông thường (Dianthus caryophyllus). Chúng nở thành chùm có dạng hình cầu. Tên khoa học của hoa là Dianthus barbatus. Tôi gọi hoa là cẩm chướng mỹ nữ. Cái tên này tôi ghép từ tên gọi "cẩm chướng" của Việt Nam do có chi là Dianthus, và tên "mỹ nữ" từ tên gọi của Nhật Bản "mỹ nữ phủ tử" (bijo-nadeshiko). Người Trung Quốc gọi hoa này là "Ngũ thái thạch trúc" do hoa có nhiều màu sắc sặc sỡ. Có thể gọi hoa là "cẩm chướng nhung" như một cách gọi ở Việt Nam. Song tôi muốn dùng tên "cẩm chướng nhung" để gọi cho những hoa cẩm chướng trông giống như cẩm chướng mỹ nữ này, nhưng nở thành từng hoa đơn lẻ, không thành một chùm có dạng hình cầu.

Basho có bài thơ sau về hoa cẩm chướng:

shimo no nochi nadeshiko sakeru hioke kana

Bản dịch của tôi:

Sương đọng
Những bông cẩm chướng nở
Lò than gỗ

Bài haiku này là sự liên tưởng khá thú vị. Sương rơi xuống những bông cẩm chướng đang nở, càng làm hoa trở nên rực rỡ, như những viên than đỏ rực trong lò lửa.

Cẩm chướng mỹ nữ


Hoa thủ cầu Nhật

Photobucket

Hoa này có tên khoa học là Spiraea japonica, cùng một chi với hoa thủ cầu Spiraea cantoniensis. Do vậy hoa này có thể gọi bằng tên "thủ cầu Nhật", còn hoa Spiraea cantoniensis có thể gọi là "thủ cầu Quảng Đông". Thật ra người Nhật gọi hoa này là "Hạ dã" (shimotsuke), là tên gọi một vùng ở Nhật, nơi có nhiều hoa này. Cái tên "thủ cầu Nhật" này cũng không được trọn vẹn lắm, bởi vì còn có hoa Spiraea nipponica. Để khỏi trùng tên nhau, Spiraea nipponica có lẽ phải gọi là "thủ cầu Phù Tang" hay "thủ cầu Đông Doanh" hay "thủ cầu Nhật núi" (suy từ tên Nhật: iwashimotsuke).

Bài haiku sau của Naitoh Toten, một bài haiku hiện đại:

yama-hibari sudatsu shimotsuke-no hana-zakari

Tôi dịch như sau:

Chim sơn tước rời tổ
Hoa thủ cầu Nhật
Nở rộ

Yama-hibari là chim sơn vân tước, có tên khoa học là Prunella montanella. Bài haiku này là sự liên tưởng, giữa tổ chim sơn tước và chùm hoa thủ cầu Nhật. Khi hoa thủ cầu Nhật nở rộ, các nhị hoa tua tủa ra ngoài, như một cái tổ chim. 


Hoa dâm bụt cánh kép

Dâm bụt cánh kép

Rất bất ngờ đối với tôi, bông hoa này cũng là hoa dâm bụt Hibiscus syriacus. Nếu không có biển đề tên hoa thì tôi hẳn sẽ rất khó mà nhận ra được. Đây là hoa dâm bụt cánh kép. Tôi không biết người ta phân loại cây cỏ theo những tiêu chí như thế nào. Nhưng nếu quả cây dâm bụt cánh kép này cũng là một loại y như cây dâm bụt cánh đơn thì thật là cũng rất khó hiểu. Nhưng phải tin vào khoa học thôi!

Bài haiku sau của Sampu, một đệ tử của Basho

Te wo kakete orade sugiyuku mukuge kana

Bản dịch của tôi:

Với tay, không ngắt được
Đành đi qua
Hoa dâm bụt


Dâm bụt cánh kép

Hoa dâm bụt

Hoa dâm bụt

Đây là một loại hoa dâm bụt. Hoa này có tên khoa học là Hibiscus syriacus, thuộc họ Cẩm quỳ (Malvaceae). Hoa dâm bụt đỏ thường thấy ở Việt Nam có tên khoa học là Hibiscus rosa-sinensis. Hoa dâm bụt có nhiều tên gọi khác nhau. Vùng Nam bộ còn gọi hoa là bông bụt. Người Trung Quốc và Nhật Bản khá thống nhất gọi hoa dâm bụt Hibiscus syriacus là mộc cận. Một số hoa khác trong chi Hibiscus còn có tên là phù dung. Hoa dâm bụt đỏ phổ biến ở Việt Nam còn được người Trung Quốc và Nhật Bản gọi là phù tang hay Phật tang. Quảng quần phương phổ tuy xếp hoa phù tang vào một mục khác với hoa mộc cận, nhưng đều nói rõ đấy là hoa mộc cận đỏ (chu cận hay xích cận). Tên phù tang là chỉ một thứ cây trong truyền thuyết ở Đông hải, có hoa rực rỡ như mặt trời, lá như lá cây dâu. Cây hoa dâm bụt đỏ cũng có các đặc điểm na ná như vậy, do vậy mà có tên phù tang. Do cây phù tang trong truyền thuyết kỳ lạ cho nên người ta cho rằng đấy là thứ cây của Phật, do đó mà có tên Phật tang. Tang có nghĩa là cây dâu. Tên dâm bụt trong tiếng Việt thật khó truy nguồn gốc. Một thuyết cho rằng "dâm bụt" là biến âm của "dâng bụt" tức là hoa dâng Phật. Tôi không mấy tin vào thuyết này bởi vì, thứ nhất, chưa rõ quy luật biến âm: âng >> âm, và thứ hai, không rõ nguồn gốc hoa dâng Phật có xuất xứ như thế nào. Tôi lại nghĩ rằng cũng có thể từ "dâu Phật" biến âm thành "dâm bụt". Ở đây chỉ có một điểm chưa rõ là quy luật biến âm: âu >> âm. Còn "dâu Phật" đã có nguồn gốc là Phật tang. Cách gọi của miền Nam "bông bụt"  có lẽ dễ hiểu hơn, bông hoa của Phật. Quảng quần phương phổ còn cho biết hoa dâm bụt này còn được gọi Thuấn hoa, nguyên trong Kinh Thi, bài Hữu nữ đồng xa. Hoa dâm bụt Hibiscus syriacus là quốc hoa của Hàn Quốc. Trong tiếng Hàn hoa có tên là "vô cùng hoa". Tiếng Anh gọi hoa là rose of Sharon, theo wikipedia, có xuất hiện từ bản dịch Kinh Thánh.

Nguyễn Trãi có bài thơ  Mộc cận

Ánh nước hoa in một đoá hồng
Vẩn nhơ chẳng bén, bụt là lòng
Chiều mai nở, chiều hôm rụng
Sự lạ cho hay thuyết sắc không

Bài thơ của Nguyễn Trãi là bài thơ Nôm, nhưng tên bài vẫn dùng chữ Hán để gọi tên hoa. Hoa dâm bụt thường được coi là hoa sớm nở tối tàn. Thực ra buổi chiều hoa cụp lại. Nguyễn Trãi viết "bụt là lòng" là có nghĩa gì? Hoa dâm bụt có cái nhị ở giữa hoa, nhất là hoa dâm bụt đỏ, vươn hẳn ra ngoài hoa. Không biết có phải ý Nguyễn Trãi là vậy không?
 

Hoa dâm bụt


Cẩm tú cầu

Photobucket

Đây là hoa cẩm tú cầu quen thuộc. Tên khoa học của hoa là Hydrangea macrophylla, cùng tên với hoa tử dương, chỉ khác một chút phân nhánh. Người Nhật vẫn gọi cẩm tú cầu là hoa tử dương (ajisai). Cẩm tú cầu có khá nhiều màu sắc khác nhau. Hoa nở giữa hè.

Masaoka Shiki có bài haiku sau:

ajisai no ame ni asagi ni tsuki ni aoshi

Bản dịch của tôi:

Hoa cẩm tú cầu
Trong mưa vàng nhạt
Dưới trăng thanh thanh

Dường như đối với bài haiku này hoa cẩm tú cầu không có màu sắc riêng của mình.  Màu hoa hòa vào nền phông xung quanh. Ánh trăng thanh thanh hoa cũng thanh thanh, mưa đổ vàng vàng hoa cũng vàng theo. Tuy lẫn vào nền phông xung quanh, cẩm tú cầu vẫn là cẩm tú cầu, không phải là mưa đang rơi, không phải là ánh trăng đang chiếu. Đấy là hòa mà không đồng. 

Photobucket


Hoa gai lửa

Hoa gai lửa

Cái tên "gai lửa" này nghe có vẻ không thích hợp với những chùm hoa trắng. Thật ra tên "gai lửa" không phải do hoa, mà là do quả. Quả cây này có từng chùm màu đỏ hay vàng, có lẽ trông giống như lửa. Tên "gai lửa" có xuất xứ từ cả tiếng Anh lẫn tiếng Trung. Tên cây trong tiếng Anh là firethorn, còn trong tiếng Trung là "hỏa cức". Thorn hay cức đều là cây gai, fire hay hỏa đều là lửa. Cây này vốn là cây bản địa ở Trung Quốc, do đó có thể suy ra tên tiếng Anh là tên phát sinh từ tên tiếng Trung Quốc. Cây này trong tiếng Nhật là "quất nghĩ" (tachibana-modoki). Tên khoa học của cây là Pyracantha angustifolia. Hoa gai lửa trông rất giống hoa thủ cầu. Chúng có thể nở thành chùm cầu hay rải rác theo nhánh cây. Nhiều khi nhìn hoa tôi không biệt được. Phải nhìn lá mới biết cây nào là gai lửa, cây nào là thủ cầu. Lá cây gai lửa hơi có gợn răng cưa ở mép lá, còn lá cây thủ cầu có răng cưa lớn ở phần đầu lá.

Tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai có nói đến một loài chim lao mình vào cây mận gai chết. Thực ra tiểu thuyết không nói cụ thể là cây mận gai, chỉ nói đến một thứ cây gai (a thorn tree). Bản dịch tiếng Việt đã quy cây gai thành cây mận gai (Prunus spinosa, blackthorn). Cây mận gai không phải là cây đặc trưng cho loài cây gai. Cây đặc trưng cho loài cây gai là hawthorn (Crataegus), có hoa khá giống hoa cây gai lửa.

Ghi chú: Tiếng chim hót trong bụi mận gai là tên tiểu thuyết được dịch qua bản dịch tiếng Nga: Поющие в терновнике.
Терновник là cây mận gai (Prunus spinosa). Bản dịch tiếng Việt qua bản dịch tiếng Pháp có nhan đề Những con chim ẩn mình chờ chết. Hóa ra cuốn tiểu thuyết này chưa có bản dịch tiếng Việt từ nguyên bản tiếng Anh. Nhan đề trong tiếng Anh là The thorn birds. Cũng khó dịch ra tiếng Việt.
 
Hoa gai lửa


Hoa thủ cầu

Hoa thủ cầu

Đây là loài hoa mà tôi thấy khó tìm tên gọi tiếng Việt cho nó.  Hoa có tên khoa học là Spiraea cantoniensis, thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae). Tên tiếng Nhật là "tiểu thủ cầu" hay "tiểu thủ cúc" (kodemari). Thủ cầu hay thủ cúc là quả bóng da nhỏ ngày xưa. Có lẽ tương đương với nó ở Việt Nam là quả phết trong trò chơi đánh phết đã thất truyền hay quả cầu mây hiện nay. Tiếng Trung gọi hoa là "ma diệp tú cầu" hay "tú tuyến cúc". Cả hai tên gọi này tôi đều thấy không thích hợp. Tú cầu đã dùng để gọi cho hoa thuộc chi Hydrangea. Xếp hoa vào dạng hoa cúc cũng không thích hợp. Tôi đành gọi theo tên gọi của Nhật là hoa thủ cầu. Hoa thật ra không có dạng cả một quả cầu đầy đủ, mà chỉ có một phẩn cầu ở trên. Các bông cầu này hay nở cả một dải dài dọc theo nhánh cây. Cây thuộc loại cây bụi. Hoa nở vào khoảng cuối tháng tư, cùng dịp hoa tuyết cầu nở.

Đây là bài haiku của Makoto Kemmoku mà tôi tìm thấy trên mạng, một bài haiku hiện đại:

kodemari y ate no todokazaru yume musu

Tôi dịch như sau:

Hoa thủ cầu
Chưa đến tay
Vô số mộng

Ở bài haiku này có hai chữ "tay", một trong tên hoa, một ở sau tên hoa. Không phải hoa thủ cầu chưa tới tay, mà là vô số mộng vẫn còn chưa đến tay. Có nghĩa là khi hoa thủ cầu nở, tôi còn muốn mơ thêm nhiều giấc mơ nữa. Những giấc mơ như những bông hoa chi chít trong mỗi cầu hoa, trong những dải cầu hoa trên cây hoa thủ cầu. Giấc mơ cuối xuân đấy là những giấc mơ gì thì tôi không biết. Giấc mộng tầm xuân, biệt xuân hay đón chào một mùa hè đang tới?

Hoa thủ cầu


Này các anh em con người

Tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm của Littell mở đầu bằng các từ "Này các anh em con người" (Freres humains). Khi đọc cuốn tiểu thuyết này tôi đã không biết các từ mở đầu này có xuất xứ từ đâu. Hôm nay đọc tạp chí Văn học nước ngoài của Nga mới biết đấy chính là các từ mở đầu của tác phẩm Ballade des Pendus (Bản ballade về những người bị treo cổ) của Francois Villon. Bản dịch tiếng Nga thật kỹ lưỡng, tiếc là trang web của tạp chí chỉ giới thiệu có mỗi phần Toccata.

Những ghi chép của tôi về Những kẻ thiện tâm: ghi chép 1, ghi chép 2, ghi chép 3ghi chép 4.

Một giấc mơ

Hôm nay đọc The New Yorker thấy bài thơ A dream của Jorge Luis Borges, qua bản dịch của Suzanne Jill Levine. Tôi thấy thích bài thơ này và thử dịch ra tiếng Việt. Công nhận, The New Yorker đưa bài thơ này rất hợp thời. Không rõ Borges sáng tác bài thơ này vào năm nào. Thẩm mỹ về chuỗi vô tận, A trong A trong A ... rất hợp với tư duy phương Đông, không có khởi đầu và không có kết thúc, và con người chỉ còn có thể bất lực mà thôi. Nhưng thực ra các chuỗi vô tận không hẳn đã là vô tận. Chúng có một giới hạn, giống như nghịch lý Achilles đuổi rùa của Hy Lạp cổ đại. Cái giới hạn đấy là lúc con người có thể đọc được những gì mà những người tù đã viết ra.

Một giấc mơ

Jorge Luis Borges


Ở một nơi hoang vắng ở Iran có một tháp đá không cao lắm, không có cửa cũng như cửa sổ. Trong căn phòng duy nhất (với nền đất và có dạng hình tròn) có một chiếc bàn gỗ và một chiếc ghế băng. Trong ngục tròn đó có một người nom giống như tôi đang viết chữ mà tôi không thể hiểu, một bài thơ dài về một người trong một ngục tròn khác đang viết một bài thơ về một người trong một ngục tròn khác... Diễn tiến này chẳng bao giờ kết thúc và chẳng một ai có khả năng
được đọc những gì mà những người tù đã viết ra.